Đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng trong năm 2026

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Điều này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao để Việt Nam đạt được mục tiêu đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.

Theo đó, năm 2026 là cột mốc quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế của Việt Nam, khi mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt ra nhằm tạo nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng. Đây không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa chiến lược, thể hiện quyết tâm bứt phá về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Hài hòa trong điều hành chính sách để đạt mục tiêu tăng trưởng
Nguồn: Chính phủ. Đồ họa: Phương Anh

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất ổn, không ít ý kiến cho rằng, việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đánh giá là tham vọng, nhưng có cơ sở.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, nền kinh tế Việt Nam duy trì được sự ổn định, khả năng chống chịu và phục hồi khá tốt. Năm 2024, GDP tăng 7,09% - cao hơn dự báo ban đầu. Năm 2025, tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 8,02% - chỉ thấp hơn mức tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011 - 2025. Vì vậy, dư địa tăng trưởng của nền kinh tế vẫn còn.

Theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, trên nền tảng tích cực của năm 2025 và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cùng với dự báo kinh tế vĩ mô năm 2026 tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, niềm tin của người dân và doanh nghiệp được củng cố, Việt Nam có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng trong năm 2026.

TS. Cấn Văn Lực dự báo, ở kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP năm 2026 có thể đạt 9 - 9,5%; trong đó, tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 4 - 4,5%, đóng góp 4,5 - 5% vào tăng trưởng chung; công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 10 - 11%, đóng góp 45 - 47% vào tăng trưởng chung; dịch vụ tăng trưởng 10 - 11%, đóng góp 47 - 49% vào tăng trưởng chung.

Ở kịch bản tích cực, tăng trưởng GDP có thể đạt 10% với mức đóng góp cao nhất vẫn thuộc về khu vực dịch vụ, nhưng có thể lên đến 49 - 50% GDP toàn nền kinh tế. Đây là mức tăng trưởng tiệm cận quỹ đạo bứt phá của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn vượt bẫy thu nhập trung bình.

Ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, cần phối hợp hài hòa trong điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ với các chính sách vĩ mô khác. Trong đó, chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ có vai trò bổ trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát.

Cùng với đó, cần điều hành linh hoạt lãi suất và tỷ giá, bình ổn thị trường vàng, lành mạnh hóa thị trường bất động sản; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu; sớm xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính, phát triển thị trường tài chính cân bằng, đồng bộ gắn với phân bổ tín dụng hiệu quả.

Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trước những biến động khó lường

Theo TS. Nguyễn Văn Hiến, muốn hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trước những biến động khó lường của kinh tế thế giới; điều hành linh hoạt chính sách tài khóa và tiền tệ để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát. Đồng thời, duy trì niềm tin thị trường, ổn định tỷ giá, kiểm soát nợ công trong ngưỡng an toàn, đây là “điều kiện cần” để các giải pháp khác phát huy hiệu quả.

Đồng thời, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng bằng cách đẩy nhanh tiến độ xử lý các dự án lớn còn vướng mắc, tồn đọng để giải phóng nguồn lực, tăng hiệu quả đầu tư; chú trọng cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững bằng cách tăng tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ, y tế, giáo dục, hạ tầng số…

Còn theo TS. Nguyễn Văn Hiến - chuyên gia kinh tế, triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 được đánh giá tích cực, nhưng sẽ đòi hỏi sự chủ động và phối hợp hài hòa trong điều hành chính sách và thích ứng linh hoạt với môi trường quốc tế. Dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 tiếp tục duy trì ở mức cao, khoảng 9 - 10%. Đây là kịch bản khả thi nếu Việt Nam tiếp tục duy trì đà hồi phục của sản xuất, xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy tiêu dùng nội địa và đầu tư tư nhân.

Trong đó, xuất khẩu vẫn là động lực chính nhờ lực đẩy từ các hiệp định thương mại tự do. Việt Nam kỳ vọng duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 8 - 10%, nhất là ở các ngành có giá trị gia tăng cao như điện tử, linh kiện công nghệ, dệt may công nghệ sạch.

TS. Nguyễn Văn Hiến nhấn mạnh, chuyển đổi số và kinh tế số sẽ tạo động lực tăng trưởng mới. Dự báo giá trị của kinh tế số tiếp tục tăng, chiếm trên 15% GDP, giúp thúc đẩy năng suất trong nhiều ngành, từ nông nghiệp, sản xuất đến dịch vụ. Các doanh nghiệp số, công nghệ tài chính (fintech), logistics thông minh được hưởng lợi từ đầu tư hạ tầng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Bên cạnh đó, định hướng điều hành của Chính phủ tiếp tục ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát với chính sách tiền tệ thận trọng, kiểm soát tốt lạm phát ở mức 3,5 - 4%, đảm bảo sức mua và giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp, qua đó, tạo điều kiện để đạt được những mục tiêu đề ra.

Duy trì hệ thống tài chính lành mạnh là nền tảng cho tăng trưởng

Tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, một trong những yêu cầu được đặt ra là phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, kỹ trị dựa trên nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính, trong đó chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế tài chính (Học viện Tài chính), phối hợp hài hòa và hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là yêu cầu cần thiết trong điều hành kinh tế vĩ mô. Năm nay, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%, trong khi dư địa mở rộng chính sách tiền tệ hạn chế, đặc biệt khi dư nợ tín dụng so với GDP đã ở mức 140%, thì tăng trưởng kinh tế nên dựa nhiều vào chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, tăng trưởng tín dụng dự kiến ở mức 15% là hợp lý.

Còn theo TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, trong bối cảnh tình hình địa chính trị quốc tế nhiều biến động khó lường, môi trường chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài, để doanh nghiệp vững tin mở rộng sản xuất, kinh doanh; ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát, giữ nợ công ở ngưỡng an toàn, duy trì hệ thống tài chính lành mạnh chính là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.