Khơi thông nguồn vốn để tăng sức bật cho khu vực tư nhân

Thu Hương
(TBTCO) - Đầu tư công và khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng, trong khi đầu tư của khu vực tư nhân và tiêu dùng nội địa phục hồi chậm, đặt ra yêu cầu khơi thông nguồn vốn cho khu vực tư nhân.
aa

Sức bật từ nội lực chưa thực sự bền vững

Nhìn lại bức tranh tăng trưởng kinh tế năm 2025, có thể thấy động lực chủ đạo vẫn đến từ đầu tư công và khu vực FDI, trong khi khu vực tư nhân và tiêu dùng nội địa phục hồi chậm. Tổng vốn đầu tư công tăng 26,6%, giải ngân FDI tăng 11,7%, nhưng đầu tư của khu vực tư nhân chỉ đạt 8,4%. Ở phía cầu, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,2%, song nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng thực chỉ khoảng 6,7%, đánh dấu năm thứ 3 liên tiếp tiêu dùng nội địa tăng dưới 10%.

Khơi thông nguồn vốn để tăng sức bật cho khu vực tư nhân
Cơ cấu tín dụng hiện nay vẫn nghiêng mạnh về cho vay ngắn hạn. Ảnh: Đức Thanh

Trong bối cảnh đó, GDP năm 2025 vẫn đạt mức tăng khoảng 8,02%, chủ yếu nhờ đóng góp của các ngành gắn với FDI và đầu tư công. Công nghiệp chế biến - chế tạo tiếp tục là động lực chính với mức tăng khoảng 10%, phản ánh sự phục hồi của xuất nhập khẩu và vai trò dẫn dắt của khu vực FDI, đặc biệt ở các ngành điện tử, máy móc - linh kiện và dệt may. Song song, xây dựng trở thành trụ cột quan trọng khi tăng trưởng 9,6%, nhờ dòng vốn đầu tư công được đẩy mạnh vào các dự án hạ tầng trọng điểm.

Theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch HĐQT FiinGroup và FiinRatings, tăng trưởng GDP năm 2025 chủ yếu được dẫn dắt bởi đầu tư công và FDI, trong khi đầu tư tư nhân và tiêu dùng vẫn còn yếu. Thực tế này phản ánh rõ sự "lệch pha" trong cấu trúc tăng trưởng: động lực từ khu vực nhà nước và FDI tăng mạnh, nhưng sức bật từ nội lực doanh nghiệp trong nước và thị trường nội địa chưa thực sự bền vững.

Về tổng thể, bức tranh tăng trưởng của Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tái cân bằng: từ mô hình dựa nhiều vào đầu tư công và FDI sang mô hình lấy khu vực tư nhân và tiêu dùng nội địa làm động lực trung tâm. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới, không chỉ cần cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, mà còn phải tái cấu trúc hệ thống huy động vốn, phát triển mạnh thị trường vốn và khơi thông dòng vốn trung - dài hạn cho đầu tư.

Xuất nhập khẩu năm 2025 phục hồi mạnh về quy mô, song phần lớn tăng trưởng và thặng dư thương mại đến từ khu vực FDI. Ngược lại, doanh nghiệp trong nước tiếp tục chịu áp lực từ thuế quan, chi phí sản xuất cao và nhu cầu toàn cầu chưa đồng đều. Bước sang năm 2026, triển vọng xuất khẩu khó lan tỏa rộng sang khu vực nội địa, bởi tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào mở rộng sản xuất của khối FDI và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng. Khả năng cải thiện của doanh nghiệp trong nước mang tính điều kiện, gắn với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả chính sách hỗ trợ.

Đánh giá triển vọng năm 2026, tầm nhìn đến 2030, ông Thuân cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 10%, ngoài các giải pháp như nâng cao hiệu quả đầu tư, cải thiện năng suất lao động và đẩy mạnh khoa học - công nghệ, hai động lực then chốt cần được khơi thông là đầu tư của khu vực tư nhân và sự phục hồi của cầu tiêu dùng trong nước. Đầu tư công, FDI và xuất khẩu được kỳ vọng vẫn duy trì nhịp tăng trưởng, song sức bật bền vững của nền kinh tế phụ thuộc ngày càng nhiều vào khu vực doanh nghiệp trong nước và thị trường nội địa. Tuy nhiên, vai trò trung tâm của đầu tư tư nhân chỉ có thể được khẳng định khi các con số thực hiện cho thấy sự cải thiện rõ rệt.

Giải bài toán vốn hỗ trợ đầu tư tư nhân

Để hỗ trợ đầu tư tư nhân, giải bài toán vốn trung - dài hạn là một trong những vấn đề then chốt. Việt Nam đang triển khai nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn, đòi hỏi nguồn vốn dài hạn nhằm đảm bảo tính bền vững của từng dự án cũng như của toàn bộ hệ thống tài chính.

Tuy nhiên, cơ cấu tín dụng hiện nay vẫn nghiêng mạnh về cho vay ngắn hạn, chiếm trên 55%, trong khi tỷ trọng cho vay trung - dài hạn gần như không cải thiện trong giai đoạn từ năm 2022 đến nửa đầu năm 2025. Điều này cho thấy sự "lệch pha" mang tính cấu trúc giữa nhu cầu vốn dài hạn của khu vực sản xuất - đầu tư và khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng.

Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp còn nhiều khoảng cách

Giới chuyên gia nhận định, dư địa cải thiện của khu vực doanh nghiệp có sự khác biệt rõ giữa các nhóm. Doanh nghiệp nhà nước có lợi thế trong nâng cao hiệu quả quản trị và có thể tận dụng nguồn vốn vay để mở rộng đầu tư. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân lớn chịu áp lực rủi ro tài chính do đòn bẩy cao, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận vốn.

Khi Việt Nam tiến tới cơ chế phân bổ tín dụng theo thị trường, giảm dần vai trò của “room tín dụng”, hệ số an toàn vốn (CAR) trở thành công cụ kiểm soát tăng trưởng tín dụng cốt lõi. Tuy nhiên, theo đại diện từ FiinGroup và FiinRatings, CAR của nhiều ngân hàng chỉ ở mức vừa trên ngưỡng tối thiểu, với sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm. Trong bối cảnh tài sản có rủi ro tiếp tục gia tăng, dư địa mở rộng tín dụng không còn phụ thuộc vào hạn mức hành chính, mà phụ thuộc trực tiếp vào khả năng bổ sung vốn tự có. Điều này cho thấy hệ thống ngân hàng khó có thể tiếp tục gánh vai trò tài trợ dài hạn cho mục tiêu tăng trưởng cao kéo dài.

Trong bối cảnh đó, thị trường vốn được kỳ vọng sẽ trở thành trụ cột mới cho huy động vốn trung - dài hạn. Với kênh trái phiếu doanh nghiệp, năm 2026 được dự báo sôi động hơn nhờ nguồn cung phát hành gia tăng, khi lãi suất tín dụng ngân hàng có xu hướng tăng. Chất lượng trái phiếu cũng được kỳ vọng cải thiện, các doanh nghiệp có hệ số đòn bẩy thấp hơn, yêu cầu xếp hạng tín nhiệm được mở rộng và cơ chế giám sát về mục đích sử dụng vốn, công bố thông tin ngày càng chặt chẽ. Đồng thời, cơ sở nhà đầu tư tổ chức được mở rộng thông qua phát triển các mô hình quỹ mới và gia tăng vai trò của quỹ mở.

Ở kênh vốn cổ phần, năm 2025 ghi nhận mức huy động khoảng 150.000 tỷ đồng, vượt xa đỉnh năm 2021. Khoảng 37,1 tỷ cổ phiếu mới được bổ sung, nâng tổng lượng cổ phiếu lưu hành lên 284,5 tỷ đơn vị, tăng 15% so với năm 2024. Tuy nhiên, xét tương quan với quy mô nền kinh tế và nhu cầu vốn trung - dài hạn, kênh vốn cổ phần vẫn còn khiêm tốn, trong khi nguồn cung mới tập trung chủ yếu ở các ngành ngân hàng, chứng khoán và bất động sản.

Thu Hương

Đọc thêm

Chính sách tài khóa mở dư địa cho tăng trưởng kinh tế

Chính sách tài khóa mở dư địa cho tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam đánh giá, chính sách tài khóa đang chủ động trong việc dẫn dắt, trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Trong giai đoạn cuối năm, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp đồng bộ hơn nữa, để vừa đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng và giải ngân vốn đầu tư công, nhưng không tạo áp lực lên cung tiền, cũng như hệ thống tiền tệ.
Thương mại Việt Nam - Australia tăng mạnh

Thương mại Việt Nam - Australia tăng mạnh

(TBTCO) - Australia hiện là đối tác thương mại lớn thứ 7 của Việt Nam, còn Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 10 của Australia. Đáng chú ý, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt 8,2 tỷ USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước.
Nghị quyết số 10-NQ/TW: Kiến tạo dòng vốn FDI chất lượng cao

Nghị quyết số 10-NQ/TW: Kiến tạo dòng vốn FDI chất lượng cao

(TBTCO) - Các chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW là bước chuyển quan trọng trong tư duy thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao. Đây chính là chất xúc tác giúp nâng cấp chuỗi giá trị và cải thiện năng lực cạnh tranh, từ đó duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn.
Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam cần thêm hành lang pháp lý để dẫn vốn quốc tế

Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam cần thêm hành lang pháp lý để dẫn vốn quốc tế

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, để Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) thực sự trở thành kênh dẫn vốn quốc tế vào nền kinh tế, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đặc biệt về cơ chế kết nối với các tổ chức trong nước và sở giao dịch chứng khoán quốc tế.
Hoàn thiện thể chế, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh

Hoàn thiện thể chế, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh

(TBTCO) - Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia; hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh… là những giải pháp trọng tâm được nêu trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Trong vòng 1 tuần, Gia Lai thu hút 2 dự án FDI vốn hơn 139 triệu USD

Trong vòng 1 tuần, Gia Lai thu hút 2 dự án FDI vốn hơn 139 triệu USD

(TBTCO) - Chỉ trong tuần đầu tháng 8/2026, tỉnh Gia Lai thu hút được 2 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) từ Singapore với tổng vốn đầu tư 3.615 tỷ đồng (tương đương 139,04 triệu USD). Lũy kế trong năm 2026, tỉnh Gia Lai đã thu hút được 5 dự án FDI với tổng vốn hơn 3.900 tỷ đồng.
Áp dụng cơ chế đặc thù nhưng không hợp pháp hóa sai phạm

Áp dụng cơ chế đặc thù nhưng không hợp pháp hóa sai phạm

(TBTCO) - Thống nhất với việc ban hành cơ chế đặc thù cho các công trình, dự án phục vụ APEC 2027, các đại biểu Quốc hội cũng lưu ý cơ chế đặc thù chỉ áp dụng đối với những dự án, công trình phục vụ APEC 2027 và đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương; không mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tạo tiền lệ trong xử lý các trường hợp tương tự.
Hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia

Hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia

(TBTCO) - Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều