Phối hợp hài hòa chính sách tài khóa và tiền tệ:

Kỳ vọng hiệu quả từ gói cấp bù 3% lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - (TBTCVN) - Gói hỗ trợ cấp bù 3% lãi suất là một đề xuất được giới kinh doanh đặt nhiều kỳ vọng có thể thúc đẩy doanh nghiệp phục hồi và phát triển. Đây là một giải pháp khá độc đáo trên cơ sở thực thi chính sách tài khóa thông qua kênh dẫn vốn trên thị trường tiền tệ.
aa

Quy mô hỗ trợ khoảng 3.000 tỷ đồng

Gói cấp bù 3% lãi suất có quy mô ước tính khoảng 3.000 tỷ đồng (hay còn gọi là gói hỗ trợ tín dụng 100 nghìn tỷ đồng) là một trong những giải pháp đề xuất trong gói giải pháp chung được Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng trình Chính phủ về xây dựng nghị quyết hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2025.

Kỳ vọng hiệu quả  từ gói cấp bù 3% lãi suất
Ngân hàng Nhà nước ủng hộ việc giảm lãi suất vì đó là điều thiết thực trong việc hỗ trợ doanh nghiệp.

Trong đó, phần liên quan đến nhóm nhiệm vụ giải pháp về hỗ trợ tăng cường tiếp cận tài chính, dự thảo tờ trình có đề xuất nghiên cứu việc có chính sách hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp trong một số ngành bị tác động nặng nề bởi Covid-19 và doanh nghiệp có trụ sở chính hoặc cơ sở sản xuất tại các địa bàn áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 trên 1 tháng, với mức lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất của thị trường khoảng 3 - 4%/năm trong thời hạn 1 năm.

Trong phần diễn giải liên quan đến giải pháp này, tờ trình có đề cập ước tính với khoản ngân sách hỗ trợ lãi suất khoảng 3.000 tỷ đồng. Theo đó, các doanh nghiệp có thể tiếp cận được gói tín dụng khoảng 100 nghìn tỷ đồng, với lãi suất ưu đãi thấp hơn khoảng 3 - 4%/năm so với lãi suất thị trường hiện tại.

Đánh giá về gói cấp bù 3% lãi suất nêu trên, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, Ngân hàng Nhà nước ủng hộ việc giảm lãi suất vì đó là điều thiết thực trong việc hỗ trợ doanh nghiệp. Theo đó, việc đánh giá hiện nay nằm ở chỗ nguồn lực ngân sách có thể dành cho khoản này được bao nhiêu và việc triển khai cũng sẽ phải tính toán để có phương thức hợp lý, hiệu quả, để khắc phục được những khó khăn hiện tại.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng giám đốc Công ty AFA Capital cho biết, sau giai đoạn dịch bệnh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt 5 khó khăn trọng yếu: Thị trường sụt giảm, khó khăn về lao động, khó khăn về vận chuyển, khó khăn mua nguyên liệu và đặc biệt là khó khăn nguồn tiền. Do đó, việc hỗ trợ bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp là rất cấp thiết, trong đó giải pháp quan trọng và khả thi là hỗ trợ lãi suất, nhất là hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì nhóm doanh nghiệp này luôn là đối tượng yếu thế nhất trong việc tiếp cận vốn vay.

Những tính chất riêng của giải pháp cấp bù lãi suất

Hiện nay, lãi suất cho vay thị trường đang ở mức khoảng 7 - 8%/năm, theo đó, gói hỗ trợ 3% lãi suất nếu được thực hiện thì doanh nghiệp sẽ chỉ phải trả mức lãi suất khoảng 4 - 5%, nhưng ngân hàng vẫn nhận đủ lãi suất theo lãi suất thị trường. Phần còn lại do ngân sách nhà nước hỗ trợ.

Giải pháp cấp bù lãi suất có tính ưu việt ở chỗ dù xuất phát điểm là chính sách tài khóa (cấp tiền từ ngân sách bằng cách hỗ trợ 3% lãi suất, dự kiến khoảng 3.000 tỷ đồng), nhưng không thực hiện cấp phát trực tiếp mà thông qua hệ thống cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Về cách thức thực hiện, giải pháp cấp bù lãi suất phần nào khắc phục được những nhược điểm của phương thức hỗ trợ tiền trực tiếp truyền thống. Cụ thể, việc cấp tiền trực tiếp sẽ phải thực hiện các khâu xét duyệt, phải tuân theo các quy trình quy chế giám sát riêng dẫn đến phát sinh chi phí, thời gian kéo dài. Trong khi đó với giải pháp cấp bù lãi suất, việc giám sát sẽ thông qua chính các cơ chế đảm bảo chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng, tận dụng hệ thống mạng lưới ngân hàng để phân bổ vốn.

Một trong những vấn đề đặt ra đối với giải pháp này là cũng có ý kiến lo ngại khi thực thi có thể có lượng tiền khổng lồ để ra nền kinh tế dẫn đến lạm phát. Quan điểm này đưa ra dựa trên cách gọi khác của gói hỗ trợ, một số người gọi là gói hỗ trợ tín dụng 100 nghìn tỷ đồng (quy mô hỗ trợ 3.000 tỷ đồng, tương ứng 3% lãi suất, tương ứng với quy mô tín dụng 100 nghìn tỷ đồng).

Về việc này, các chuyên gia cho rằng với cơ chế giám sát tín dụng, doanh nghiệp muốn được vay vốn thì vẫn phải đáp ứng các điều kiện tín dụng của ngân hàng; đồng thời các ngân hàng vẫn phải chịu hạn mức tín dụng được cấp trong năm, nên họ không thể cho vay vượt quá hạn mức. Ngoài ra, theo đánh giá của ông Phan Lê Thành Long - Giám đốc Viện Kế toán quản trị công chứng Australia tại Việt Nam, các ngân hàng nếu thực thi chính sách này có thể cũng không nhất thiết phải là cho vay khoản vay mới, mà họ có thể điều chỉnh các khoản vay cũ đối với những khách hàng đủ điều kiện được hỗ trợ. Theo đó, giới chuyên môn đánh giá rằng, chính sách này nếu thực thi thì cũng sẽ không thể có chuyện có một “cơn lũ” 100 nghìn tỷ đồng đổ vào nền kinh tế. Đương nhiên, vấn đề được các nhà kinh tế cảnh báo vẫn là việc kiểm soát dòng vốn đến được đúng đối tượng, đúng mục đích.

Nhóm nhiệm vụ giải pháp về hỗ trợ tăng cường tiếp cận tài chính

Giải pháp cấp bù lãi suất là một trong những giải pháp được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất trình Chính phủ trong nhóm nhiệm vụ giải pháp về hỗ trợ tăng cường tiếp cận tài chính. Nội dung này nằm trong tờ trình Chính phủ về việc xây dựng nghị quyết hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021 - 2025.

Một số giải pháp khác trong nhóm tăng cường tiếp cận tài chính là đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; triển khai các giải pháp hỗ trợ phi tài chính nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tài chính; nghiên cứu, đánh giá các mô hình, nền tảng, giải pháp hiệu quả về tăng cường tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp từ thực tiễn hoạt động hoặc từ thông lệ tốt quốc tế.

Chí Tín

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17858 18132 18710
CAD 18577 18854 19471
CHF 32728 33113 33762
CNY 0 3470 3830
EUR 29944 30217 31245
GBP 34523 34915 35849
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15044 15632
SGD 20057 20340 20867
THB 722 786 839
USD (1,2) 26083 0 0
USD (5,10,20) 26124 0 0
USD (50,100) 26152 26172 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26359
AUD 18049 18149 19074
CAD 18761 18861 19872
CHF 32977 33007 34594
CNY 3760.2 3785.2 3920.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30124 30154 31879
GBP 34825 34875 36635
HKD 0 3355 0
JPY 162.43 162.93 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20219 20349 21083
THB 0 752.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17400000 17400000 18200000
SBJ 15000000 15000000 18200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80