Năm 2019: Điều hành tỷ giá cần linh hoạt hơn

H.Y (thực hiện)
(TBTCVN) - Mặc dù đã đạt những kết quả kinh tế vĩ mô tích cực trong năm 2018, song việc duy trì thành quả này trong năm 2019 còn nhiều thách thức.
aa

Ảnh minh họa

Trong đó, việc điều hành tỷ giá dự kiến gặp nhiều yếu tố khó lường và cần có chính sách điều hành linh hoạt hơn. Đây là ý kiến của chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN về triển vọng kinh tế vĩ mô năm 2019.

PV: Thưa ông, năm 2018 sắp kết thúc, nhìn lại năm qua, ông đánh giá thế nào về những kết quả vĩ mô chúng ta đạt được?

- TS. Cấn Văn Lực: Năm 2018, Chính phủ dự kiến hoàn thành tất cả các chỉ tiêu Quốc hội giao, trong đó một số chỉ tiêu vượt kế hoạch. Chẳng hạn, GDP dự báo có thể đạt từ 6,9 – 7%; lạm phát đến thời điểm này có thể khẳng định là sẽ dưới 4%, dự tính cả năm khoảng 3,8%. Ngoài ra, các chỉ tiêu về xuất khẩu, năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng cơ bản đạt được, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Giá cả, lãi suất, tỷ giá ổn định là một thành công trong bối cảnh có nhiều khó khăn thách thức từ bên ngoài.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tôi cũng cho rằng có 3 điều cần phải làm tốt hơn. Đó là tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế còn chậm, như cổ phần, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước. Quá trình cơ cấu lại ngân sách cũng chưa đạt kỳ vọng. Hiệu quả đầu tư công chưa được cải thiện nhiều, đặc biệt giải ngân vốn rất vướng mắc. Về môi trường kinh doanh, mặc dù Chính phủ quyết tâm cải thiện và đã đạt kết quả khả quan, tuy nhiên đâu đó ở các cấp thừa hành vẫn làm chưa tốt, chưa thực chất, tiến độ chậm so với yêu cầu.

TS. Cấn Văn Lực
TS. Cấn Văn Lực

Về hội nhập, năm nay khá thành công khi Việt Nam phê chuẩn CPTTP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), thúc đẩy lộ trình phê duyệt EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU), tạo tiền đề tốt cho năm tới. Tuy nhiên doanh nghiệp (DN) chưa tận dụng được nhiều cơ hội về hội nhập và đây cũng là điểm nghẽn cần thúc đẩy hơn trong năm tới.

PV: Năm 2019, chúng ta đề ra một số chỉ tiêu về kinh tế xã hội có thể nói là ở mức khá cao. Ông nhìn nhận thế nào về khả năng đạt các chỉ tiêu này?

- TS. Cấn Văn Lực: Với các chỉ tiêu chính như GDP năm 2019 là 6,6 – 6,8%, CPI khoảng 4%... tôi cho là phù hợp, nhưng thách thức. Hiện nay, kinh tế toàn cầu được dự báo tăng trưởng chậm lại khá nhiều trong năm tới. Báo cáo mới nhất của IMF (Quỹ Tiền tệ quốc tế) cho thấy, nếu năm nay GDP toàn cầu ở mức 2,9% thì năm tới chỉ ở mức 2,5%. Nếu chiến tranh thương mại căng thẳng hơn thì có thể còn thấp hơn nữa. Điều này sẽ tác động mạnh đến kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với thế giới và khu vực.

Về lạm phát, tôi cho rằng phải rất quyết tâm mới có khả năng kiểm soát được quanh mức 4% vì có nhiều áp lực trong năm tới. Chẳng hạn như giá cả hàng hóa thế giới dự kiến tiếp tục đà tăng nhẹ, biến động của đồng USD, lãi suất… Ở trong nước, chúng ta vẫn có lộ trình tăng giá một số mặt hàng cơ bản. Đây là những áp lực lớn cho việc kiểm soát giá cả trong năm tới, chưa kể chúng ta luôn có yếu tố lạm phát kỳ vọng tương đối cao.

PV: Trong bối cảnh năm tới có nhiều yếu tố khó lường như vậy, theo ông, chính sách tiền tệ nên ứng phó thế nào để đảm bảo ổn định tỷ giá, lãi suất, nhất là nếu đồng nhân dân tệ (CNY) tiếp tục phá giá?

- TS. Cấn Văn Lực: Năm tới đúng là năm rất thách thức với chính sách tiền tệ trong bối cảnh như tôi đã nêu. Do đó, theo tôi chính sách tiền tệ cần bám sát diễn biến thị trường tài chính tiền tệ và cả địa chính trị trên thế giới để có kịch bản phù hợp. Chẳng hạn nếu giá dầu thế giới tăng 10%, lãi suất USD tăng đúng như lộ trình Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đưa ra hay nếu đồng CNY tiếp tục giảm giá thì chúng ta ứng phó ra sao? Bên cạnh đó, các chính sách cần phối hợp tốt. Thời gian qua, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã làm khá tốt thì nay cần phát huy và làm tốt hơn nữa, đặc biệt trong bối cảnh quy mô thị trường tài chính ngân hàng ngày càng phát triển.

Về điều hành chính sách, cần có sự linh hoạt, đặc biệt là với chính sách tỷ giá. Nhiều ý kiến cho rằng nếu Trung Quốc phá giá đồng CNY 6 – 7% thì chúng ta cũng nên phá giá tương tự. Tôi cho rằng ý kiến đó là thiếu cơ sở. Qua phân tích dữ liệu, chúng tôi thấy rằng, tỷ giá thực của tiền đồng Việt Nam trong một năm rưỡi qua thực tế đã mất giá so với đồng tiền của 20 đối tác thương mại chính của chúng ta khoảng 4,5%. Nếu tiếp tục giảm giá nữa thì quá nhiều. Hơn nữa, tỷ giá thực của CNY thực ra không thay đổi từ đầu năm ngoái đến giữa tháng 6 năm nay, nên Chính phủ Trung Quốc đã tính toán điều đó và phá giá khá mạnh trong quý II, III. Tuy nhiên, tôi cho rằng, họ sẽ thay đổi chính sách, không tiếp tục để CNY mất giá quá nhiều bởi họ không muốn bị cho là thao túng tiền tệ và cũng muốn ổn định đồng CNY để thực hiện lộ trình quốc tế hóa đồng tiền này.

Mặt khác, khi điều chỉnh tỷ giá VNĐ, cần tính toán tổng hợp hài hòa nhiều yếu tố khác như nhập khẩu, nợ nước ngoài, lạm phát... Thời gian qua, cơ quan điều hành đã tính toán khá đầy đủ, tổng hợp các yếu tố khi quyết định vấn đề tỷ giá, song tôi vẫn mong muốn cơ chế điều hành tỷ giá của chúng ta sẽ linh hoạt hơn nữa. Cần tính toán lại rổ tiền tệ, vì rổ này đã thực hiện 3 năm qua, cấu trúc đồng tiền trong rổ đã thay đổi. Thị trường mua bán ngoại tệ cần dễ dàng hơn, để DN không nhất thiết vay hay cho vay ngoại tệ mà có thể chuyển sang trạng thái mua bán, như tinh thần của Nghị định 24 Chính phủ ban hành trước đây.

PV: Xin cảm ơn ông!

H.Y (thực hiện)

H.Y (thực hiện)

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80