Nếu không kịp đổi thẻ ATM gắn chip, thẻ ATM từ vẫn dùng được sau ngày 31/12

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa có văn bản hướng dẫn về việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn cơ sở về thẻ ATM gắn chip nội địa sau khi có thông tin về việc thẻ ATM từ có thể sẽ không được chấp nhận từ đầu năm 2022.
aa

Liên quan vấn đề về thẻ ATM gắn chip, vừa qua có thông tin việc các thẻ ATM từ sẽ chính thức bị ngừng hỗ trợ và không được chấp nhận trên các điểm giao dịch trên toàn quốc. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước bác bỏ thông tin này và cho biết, hiện không có quy định nào về việc từ chối chấp nhận giao dịch thẻ đối với thẻ từ nội địa đang lưu hành.

Cụ thể hơn về vấn đề này, từ năm 2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 41/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 của Ngân hàng Nhà nước. Đây là văn bản này sửa đổi bổ sung Thông tư số 19/2016/TT- Ngân hàng Nhà nước ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm phí giao dịch trên ATM, chuyển khoản liên ngân hàng Agribank miễn phí chuyển đổi từ ‘thẻ từ’ sang ‘thẻ chip’ Ngân hàng phải phát hành thẻ ATM mới có gắn chip từ ngày 31/3
Nếu không kịp đổi thẻ ATM gắn chip, thẻ ATM từ vẫn dùng được sau ngày 31/12
Nếu không kịp đổi thẻ ATM gắn chip, thẻ ATM từ vẫn dùng được sau ngày 31/12

Thông tư 41 có quy định lộ trình chuyển đổi sang công nghệ chip đối với thiết bị chấp nhận thẻ đang hoạt động tại Việt Nam và các thẻ từ nội địa đang lưu hành do các tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành.

Cụ thể đến ngày 31/12/2021, 100% số thẻ có BIN ( (Bank Identification Number - mã định dạng ngân hàng in trên mặt trước thẻ) do Ngân hàng Nhà nước cấp đang lưu hành của tổ chức phát hành thẻ tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa.

Thông tư số 19 (đã được sửa đổi, bổ sung) cũng có quy định lộ trình chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip nội địa đối với các tổ chức phát hành, tổ chức thanh toán thẻ thực hiện chuyển đổi thẻ có BIN do Ngân hàng Nhà nước cấp (thẻ nội địa) đang lưu hành tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa.

Từ 31/3/2021, các tổ chức phát hành thẻ thực hiện phát hành thẻ nội địa đang lưu hành phải tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa. Tổ chức thanh toán thẻ thực hiện chuyển đổi ATM và thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán đang hoạt động tại Việt Nam tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa.

Như vậy, để đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi sang thẻ chip nội địa, Thông tư số 19 (đã được sửa đổi bổ sung) quy định trách nhiệm của tổ chức phát hành thẻ trong thực hiện lộ trình chuyển đổi từ thẻ từ nội địa sang thẻ chip nội địa đang lưu hành và dừng phát hành thẻ từ nội địa sau thời điểm 31/3/2021.

Mặc dù vậy, Ngân hàng Nhà nước cho biết không có quy định về việc dừng hoặc từ chối giao dịch thẻ đối với thẻ từ nội địa đang lưu hành (thẻ còn đang thời hạn sử dụng) do các tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành.

Do đó, khách hàng có thẻ từ nội địa (thẻ còn đang thời hạn sử dụng) nhưng chưa được các tổ chức phát hành thẻ chuyển đổi sang thẻ chip (ví dụ khách hàng chưa đến được địa điểm của tổ chức phát hành thẻ để thực hiện chuyển đổi hoặc nhận thẻ chip) thì vẫn có thể sử dụng thẻ từ để thực hiện các giao dịch thẻ sau ngày 31/12/2021.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cần rà soát quy định pháp luật, hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa tổ chức phát hành thẻ với chủ thẻ về việc phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng, đảm bảo các giao dịch thẻ của chủ thẻ diễn ra thông suốt, an toàn.

Để tránh hiểu lầm, gây hoang mang ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, uy tín của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thẻ ngân hàng nói riêng, các tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cần tăng cường chính sách khuyến khích, hỗ trợ khách hàng thực hiện chuyển đổi từ thẻ từ nội địa sang thẻ chip nội địa.

Ngân hàng Nhà nước khuyến nghị các tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ tuyên truyền các tiện ích, tính năng ưu việt, an toàn của thẻ chip nội địa và rủi ro liên quan đến việc tiếp tục sử dụng thẻ từ nội địa; đồng thời hướng dẫn khách hàng là chủ thẻ sử dụng các kênh thanh toán điện tử khác như Internet Banking, Mobile Banking, QR Code... từ đó có cách tiếp cận, biện pháp phù hợp để chủ thẻ sớm thực hiện chuyển đổi sang thẻ chip nội địa.

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

(TBTCO) - PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.
“Gạn đục khơi trong” tín dụng bất động sản, ngân hàng và doanh nghiệp nào hưởng lợi?

“Gạn đục khơi trong” tín dụng bất động sản, ngân hàng và doanh nghiệp nào hưởng lợi?

Chính sách tín dụng bất động sản mới của Ngân hàng Nhà nước được Chứng khoán Mirae Asset đánh giá là cách tiếp cận “gạn đục khơi trong”, khuyến khích đẩy vốn vào nhà ở xã hội và khu công nghiệp, trong khi vẫn kiểm soát bất động sản thương mại và đầu cơ.
UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng UOB tái khẳng định cam kết đồng hành cùng hành trình phát triển của Việt Nam, thông qua việc thúc đẩy thương mại xuyên biên giới, hỗ trợ dòng vốn FDI và giúp doanh nghiệp trong nước phát triển bền vững. Ngân hàng cũng lên kế hoạch xây dựng trụ sở mới tại TP. Hồ Chí Minh và nghiên cứu khả năng tham gia Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam.
Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

(TBTCO) - Báo cáo của VPBankS cho thấy, áp lực trích lập dự phòng tại các ngân hàng có dấu hiệu quay lại khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành giảm xuống 79,7%, mức thấp nhất kể từ năm 2018. Trong quý I/2026, nhiều ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng mạnh so với cuối năm 2025, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ở mức cao.
Vì sao nhân sự bất động sản, ngân hàng lâu năm… chuyển sang tư vấn bảo hiểm?

Vì sao nhân sự bất động sản, ngân hàng lâu năm… chuyển sang tư vấn bảo hiểm?

(TBTCO) - Không còn giới hạn trong một lĩnh vực chuyên môn, nhiều tư vấn viên giàu kinh nghiệm trong các ngành như bất động sản, ngân hàng, ô tô, dịch vụ cao cấp… đang chủ động mở rộng phát triển sự nghiệp ở lĩnh vực tư vấn bảo hiểm. Xu hướng này phản ánh việc những người đã có nền tảng về chăm sóc khách hàng và kinh nghiệm tư vấn đang tìm cách gia tăng giá trị phục vụ trong dài hạn, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu nhập trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Hà Nội

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Hà Nội

(TBTCO) - Tại trụ sở UBND xã Kim Anh, TP. Hà Nội, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân N.V.H. tử vong do tai nạn giao thông.
Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giá giao dịch lùi về quanh 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng.
Trợ cấp thai sản tăng thế nào từ ngày 1/7/2026?

Trợ cấp thai sản tăng thế nào từ ngày 1/7/2026?

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, một số khoản trợ cấp thai sản sẽ tăng theo mức lương cơ sở mới, giúp người lao động, đặc biệt là lao động nữ, được hưởng quyền lợi cao hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,400 15,700
Kim TT/AVPL 15,400 15,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,400 15,700
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,000 157,000
Hà Nội - PNJ 154,000 157,000
Đà Nẵng - PNJ 154,000 157,000
Miền Tây - PNJ 154,000 157,000
Tây Nguyên - PNJ 154,000 157,000
Đông Nam Bộ - PNJ 154,000 157,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,400 15,700
Miếng SJC Nghệ An 15,400 15,700
Miếng SJC Thái Bình 15,400 15,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,400 15,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,400 15,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,400 15,700
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 14,890 15,590
Trang sức 99.99 14,900 15,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 154 15,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 154 15,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,538 1,568
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,538 1,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,518 1,553
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,262 153,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 107,737 116,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 96,865 105,765
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 85,992 94,892
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 81,799 90,699
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,017 64,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 154 157
Cập nhật: 04/06/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18340 18616 19189
CAD 18480 18757 19373
CHF 32709 33094 33747
CNY 0 3850 3942
EUR 29960 30233 31260
GBP 34613 35006 35942
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15218 15803
SGD 20005 20287 20813
THB 719 782 835
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26162 26402
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,122 26,122 26,402
USD(1-2-5) 25,078 - -
USD(10-20) 25,078 - -
EUR 30,142 30,166 31,482
JPY 160.55 160.84 169.87
GBP 34,850 34,944 36,011
AUD 18,537 18,604 19,232
CAD 18,697 18,757 19,373
CHF 33,037 33,140 33,990
SGD 20,170 20,233 20,947
CNY - 3,824 3,955
HKD 3,301 3,311 3,436
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 768.15 777.64 829.59
NZD 15,238 15,379 15,769
SEK - 2,776 2,863
DKK - 4,034 4,159
NOK - 2,790 2,877
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,191.25 - 6,962.26
TWD 757.67 - 914.3
SAR - 6,912.76 7,252.67
KWD - 83,728 88,739
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,132 26,402
EUR 30,038 30,159 31,349
GBP 34,809 34,949 35,970
HKD 3,290 3,303 3,420
CHF 32,840 32,972 33,900
JPY 160.72 161.37 168.91
AUD 18,540 18,614 19,211
SGD 20,215 20,296 20,884
THB 786 789 823
CAD 18,675 18,750 19,323
NZD 15,353 15,893
KRW 16.63 18.24
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26176 26176 26402
AUD 18515 18615 19541
CAD 18656 18756 19771
CHF 32964 32994 34573
CNY 3830.4 3855.4 3990.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30137 30167 31892
GBP 34913 34963 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.34 161.84 172.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15320 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20160 20290 21022
THB 0 748.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15400000 15400000 15700000
SBJ 13000000 13000000 15700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,402
USD20 26,176 26,226 26,402
USD1 23,888 26,226 26,402
AUD 18,585 18,685 19,798
EUR 30,325 30,325 31,733
CAD 18,624 18,724 20,027
SGD 20,281 20,431 20,985
JPY 161.75 163.25 167.81
GBP 34,856 35,206 36,300
XAU 15,448,000 0 15,752,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/06/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80