Quảng Ngãi bàn giải pháp tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2025 - 2030

Thanh Chung
(TBTCO) - Quảng Ngãi đang có mức tăng trưởng ấn tượng, song vẫn còn nhiều hạn chế. Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ II, nhiệm kỳ 2025 - 2030 tập trung thảo luận các giải pháp nhằm tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới.
aa
Quảng Ngãi đưa ra nhiều giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công Quảng Ngãi tháo gỡ vướng mắc cho các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa Quảng Ngãi: Tập trung giải quyết dứt điểm dự án vướng mắc, tạo đà bứt phá cho năm 2026

Nhận diện hạn chế

Ngày 8/12, Tỉnh ủy Quảng Ngãi tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ II, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Quảng Ngãi bàn giải pháp tăng trưởng hai con số trong 5 năm đến
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ II, nhiệm kỳ 2025 - 2030 được tổ chức vào ngày 8/12.

Theo báo cáo, năm 2025, Quảng Ngãi đạt 24/24 chỉ tiêu kinh tế - xã hội so với kế hoạch đề ra, trong đó có 6 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt hơn 92.340 tỷ đồng, tăng hơn 10%; GRDP bình quân đầu người ước đạt gần 102 triệu đồng, tăng hơn 10% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 5.550 triệu USD, tăng 16%. Tổng khách du lịch ước đạt 5,2 triệu lượt, tăng 38%. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước đạt hơn 35.230 tỷ đồng, đạt 100% dự toán Trung ương giao.

Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế như sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao chưa nhiều, công nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao phát triển chậm, nông nghiệp còn manh mún và thiếu bền vững.

Thu hút vốn ngoài nhà nước còn hạn chế, kết cấu hạ tầng và thị trường bất động sản phát triển chưa mạnh; đời sống người dân nông thôn, miền núi còn thấp và công tác giảm nghèo chưa thật sự bền vững. Các vướng mắc về đất đai, đầu tư, quy hoạch chưa được xử lý kịp thời. Sự phối hợp giữa một số cơ quan, đơn vị, địa phương có lúc, có việc thiếu chặt chẽ, có trường hợp còn đùn đẩy trách nhiệm…

Quảng Ngãi bàn giải pháp tăng trưởng hai con số trong 5 năm đến
Công nghiệp là một trong những trụ cột chủ lực trong phát triển kinh tế của Quảng Ngãi.

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 của tỉnh Quảng Ngãi đặt mục tiêu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Về kinh tế, tỉnh phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.460 USD; tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 30,6%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 98.000 - 100.000 tỷ đồng.

Huy động, sử dụng nguồn lực đầu tư hiệu quả

Tại Hội nghị, các đại biểu cơ bản thống nhất kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2025, nhiệm vụ chủ yếu năm 2026. Trong đó, tập trung đề xuất các giải pháp nhằm cụ thể hóa triển khai 5 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh; nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng nền hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trên các lĩnh vực; phát triển văn hóa, xã hội gắn chặt chẽ, hài hòa với phát triển kinh tế; ưu tiên bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống người dân.

Đồng thời, tập trung phân tích, đề xuất giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; thúc đẩy phát triển du lịch trong bối cảnh mới; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Các nội dung về công tác quy hoạch, định hướng không gian phát triển; nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng.

Quảng Ngãi bàn giải pháp tăng trưởng hai con số trong 5 năm đến
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Hồ Văn Niên phát biểu tại Hội nghị.

Ngoài ra, các đại biểu cũng kiến nghị nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, triển khai đồng bộ các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương; hoàn thành các mục tiêu của các chương trình trọng điểm; nâng cao chất lượng dịch vụ công, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Theo Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Phúc Nhân, để tạo động lực cho phát triển, các địa phương cần quy hoạch mới về hạ tầng, nhất là khu vực trung tâm nhằm tạo không gian phát triển mới và tiền đề cho một thời kỳ dài hạn.

Phát biểu kết luận hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Hồ Văn Niên nhấn mạnh, năm 2026 là năm có ý nghĩa rất quan trọng, đây là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2026 - 2030, thực hiện mục tiêu tăng trưởng đạt 2 con số trong bối cảnh thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Do đó, các cấp ủy, đơn vị, địa phương cần quyết tâm, quyết liệt và hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 3 nhóm giải pháp đã nêu trong dự thảo báo cáo.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi yêu cầu tập trung xây dựng và triển khai thực hiện kịp thời Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2026 - 2030, làm cơ sở để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu giải ngân đạt 100% kế hoạch.

Bên cạnh đó, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư; triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thanh Chung

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80