Thị trường tiền tệ tuần 13-17.11:

Tiếp tục gỡ vốn cho bất động sản, thêm mối lo về tín dụng tiêu dùng

Chí Tín
(TBTCO) - Sự kiện đáng chú ý nhất tuần qua là cuộc gặp gỡ giữa ngành ngân hàng và bất động sản để tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn. Ở một mảng tín dụng khác, sự sụt giảm về tăng trưởng và nợ xấu với lĩnh vực tiêu dùng đang làm gia tăng mối lo, bởi đây là một trong ba động lực tăng trưởng cần ưu tiên vốn (tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu).
aa

Gỡ vốn cho bất động sản

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến 30/09/2023, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của các tổ chức tín dụng đạt 2,74 triệu tỷ đồng, tăng 6,04% so với 31/12/2022, chiếm tỷ trọng 21,46% tổng dư nợ đối với nền kinh tế.

Trong đó tín dụng bất động sản tập trung vào mục đích tiêu dùng/tự sử dụng chiếm 64% và dư nợ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng 36% dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản.

Tiếp tục gỡ vốn cho bất động sản, thêm mối lo về tín dụng tiêu dùng
Thị trường bất động sản đã thoát đáy nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Ảnh: T.L
Quỹ bảo lãnh tín dụng được kỳ vọng tiếp vốn cho doanh nghiệp nhỏ Ngân hàng họp với các doanh nghiệp về tín dụng đối với bất động sản

Tại cuộc gặp gỡ giữa NHNN, Bộ Xây dựng, các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp bất động sản, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng. Đặc biệt, yếu tố quy trình thủ tục đang là vấn đề được nhiều đại đại diện doanh nghiệp đề cập nhiều nhất.

Ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh cho biết, thị trường bất động sản đã có tín hiệu tốt hơn, quý sau có tăng trưởng hơn quý trước nhưng tình hình chung vẫn còn rất khó khăn, trong đó yếu tố khó khăn nhất là các vấn đề pháp lý.

Về vấn đề vốn, đại diện NHNN cho biết vẫn tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng tập trung nguồn vốn cho các phân khúc nhà ở thương mại giá rẻ, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân; đồng thời, kiểm soát rủi ro tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ tín dụng các ngành kinh tế thuộc NHNN cho biết, thời gian tới sẽ tiếp tục bám sát tình hình triển khai Chương trình 120.000 tỷ đồng để phối hợp với Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh, thành phố xem xét, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh thực hiện chương trình, góp phần thúc đẩy việc đầu tư, xây dựng cũng như mua nhà ở xã hội của người dân.

Điểm nóng tín dụng tiêu dùng

Theo NHNN, đến ngày 31/10/2023, tín dụng nền kinh tế đạt hơn 12,8 triệu tỷ đồng, tăng 7,39% so với cuối năm 2022. Tốc độ này được đánh giá là chậm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một trong những yếu tố “hãm phanh” tốc độ tăng trưởng tín dụng chung là sự chững lại đột ngột của tín dụng tiêu dùng.

Đến cuối tháng 9/2023, dư nợ cho vay tiêu dùng toàn hệ thống chỉ tăng khoảng 1,53% so với cuối năm 2022 (mức tăng rất thấp so với 5 năm qua).

Quy mô của tín dụng dụng tiêu dùng

Đến cuối tháng 9/2023, toàn hệ thống có 84 tổ chức tín dụng triển khai hoạt động tín dụng tiêu dùng, trong đó có 15 công ty tài chính tiêu dùng.

Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế khoảng 12.749 nghìn tỷ đồng, trong đó tín dụng tiêu dùng của toàn hệ thống đạt khoảng 2.703 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,2% tổng dư nợ nền kinh tế (trong đó, dư nợ cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính tạm tính là 134.279 tỷ đồng, chiếm khoảng 5% dư nợ cho cho vay tiêu dùng toàn hệ thống).

Ông Nguyễn Hồng Quân - Thành viên Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, một số công ty tài chính và ngân hàng buộc phải thu hẹp tăng trưởng vì sợ nợ xấu. Thực trạng cho thấy tỷ lệ nợ xấu trong tín dụng tiêu dùng toàn hệ thống có xu hướng gia tăng (khoảng gần 3,7% tổng dư nợ tín dụng tiêu dùng, trong khi từ năm 2018 đến năm 2022, tỷ lệ nợ xấu này chỉ trên/dưới 2%).

Trong đó, ngoài yếu tố rủi ro khách quan, một trong những lý do được các chuyên gia phân tích là ý thức trả nợ của người đi vay không tốt, người vay cố tình không trả nợ; trong khi hành lang pháp lý cho hoạt động thu hồi nợ tài chính tiêu dùng chưa đầy đủ khiến cho các ngân hàng và công ty tài chính không có công cụ để thu hồi nợ.

Tiếp tục gỡ vốn cho bất động sản, thêm mối lo về tín dụng tiêu dùng
Tiếp vốn cho tiêu dùng là một trong những lĩnh vực cần được ưu tiên để thúc đẩy tăng trưởng. Ảnh: T.L

Tỷ giá giảm cuối tuần

Tỷ giá giữ nhịp khá ổn định trong giai đoạn đầu tuần, nhưng lại có xu hướng giảm vào cuối tuần.

Hôm thứ hai đầu tuần, NHNN công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với USD hiện ở mức 24.014 đồng/USD. Sau các ngày giữ nhịp ổn định với mức biến động thấp, tỷ giá trung tâm chốt phiên cuối tuần ở mức 23.971 đồng/USD, giảm 70 đồng so với phiên đầu tuần.

Tại Vietcombank, tỷ giá mở đầu tuần được ngân hàng này công bố ở mức 24.540 đồng/USD, sau đó có xu hướng giảm dần và chốt phiên cuối tuần ở mức 24.415 đồng/USD, giảm 125 đồng mỗi USD.

Hiện nay áp lực tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD khá nhẹ nhàng do diễn biến giảm giá của USD trên thị trường quốc tế, khi chỉ số USD Index sau chu kỳ tăng hồi tháng 10 giờ đã quay đầu giảm về mốc chỉ còn khoảng hơn 104 điểm.

Giá vàng tăng trở lại

Giá vàng sau chu kỳ giảm tuần trước lại trở lại nhịp tăng vào tuần này. Cụ thể giá vàng thế giới mở đầu tuần ở mức 1.941 USD/ounce và đến cuối tuần đã tăng lên mức 1.981,710 USD/ounce.

Một trong những yếu tố giá vàng tăng cũng là nhờ ảnh hưởng của động thái mất giá của USD, theo đó, vàng trở nên có giá trị hơn trong tương quan so sánh với đồng tiền này.

Tại thị trường trong nước, giá vàng cũng có một tuần tăng giá, nhưng mức tăng không quá lớn. Vàng SJC 9999 mở đầu tuần ở mức 69,3 đồng/lượng mua vào và 70,32 triệu đồng/lượng bán ra và đến phiên cuối tuần tăng lên mức 69,8 triệu đồng/lượng mua vào và 70,62 triệu đồng/lượng bán ra.

Giá vàng hiện vẫn đang được hậu thuẫn bởi diễn biến lãi suất trong nước giảm, tuy nhiên, vàng hiện cũng không phải đối tượng của dòng tiền đầu cơ nên cũng sẽ khó có những biến động lớn đối với giá vàng trong giai đoạn hiện tại.

Một số khó khăn chính của thị trường bất động sản

Vướng mắc về hệ thống thủ tục pháp lý liên quan đến đất đai, quy hoạch, đầu tư xây dựng.

Sự mất cân đối cung cầu tại các phân khúc, dư thừa nhà ở cao cấp, biệt thự trong khi nhà ở xã hội, nhà ở giá rẻ còn hạn chế.

Nhu cầu của thị trường tại một số phân khúc đang có sự sụt giảm mạnh.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp bị hạn chế.

Mặt bằng giá nhà ở cao so với khả năng tài chính và mức thu nhập của nhiều người dân...

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 145,500
Hà Nội - PNJ 142,500 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,500 145,500
Miền Tây - PNJ 142,500 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,500 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 14,550
Miếng SJC Nghệ An 14,250 14,550
Miếng SJC Thái Bình 14,250 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,600
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 14,510
Trang sức 99.99 13,920 14,520
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 14,552
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 14,553
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 145
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 142,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 108,161
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 9,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 87,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 8,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 60,204
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 1,455
Cập nhật: 24/09/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17869 18143 18722
CAD 17931 18206 18824
CHF 30963 31340 31983
CNY 0 3835 3931
EUR 29060 29279 30360
GBP 33766 34155 35093
HKD 0 3185 3388
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14517 15102
SGD 19811 20093 20672
THB 697 760 814
USD (1,2) 25744 0 0
USD (5,10,20) 25783 0 0
USD (50,100) 25811 25825 26195
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,145 29,262 30,460
GBP 33,995 34,132 35,154
HKD 3,246 3,259 3,376
CHF 31,100 31,225 32,170
JPY 160.94 161.59 169.57
AUD 18,119 18,192 18,784
SGD 20,017 20,097 20,687
THB 763 766 804
CAD 18,123 18,196 18,784
NZD 14,585 15,126
KRW 18.40 20.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25825 25825 26185
AUD 18064 18164 19089
CAD 18112 18212 19228
CHF 31186 31216 32794
CNY 3817.6 3842.6 3977.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29211 29241 30977
GBP 34032 34082 35840
HKD 0 3315 0
JPY 161.21 161.71 172.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14615 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19968 20098 20820
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 24/09/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30