Agribank vươn mình trong “cuộc đua” số hóa

Phạm Giang
(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, Agribank đang từng bước khẳng định dấu ấn bằng những giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại, linh hoạt và thực tiễn.
aa

Ghi dấu ấn qua các giải thưởng

Ngày 15/11 vừa qua, Agribank đã ghi dấu ấn mạnh mẽ tại Lễ vinh danh Sáng kiến Giáo dục Thông minh - SEI Awards năm 2025 được tổ chức tại Hà Nội. Theo đó, Trường Đào tạo Cán bộ Agribank đã xuất sắc được vinh danh ở hai hạng mục quan trọng: Môi trường giáo dục của năm (Educational Environment of the Year) và Sáng tạo giáo dục của năm (Educational innovation of the year).

Chưa dừng lại ở đó, hệ thống E-learning của Trường Đào tạo Cán bộ Agribank được hội đồng chuyên môn đánh giá cao nhờ cấu trúc bài bản và khả năng mở rộng. Hệ sinh thái học tập số của Agribank tích hợp học liệu mở, lớp học trực tuyến, các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu, hệ thống đánh giá, tương tác hiện đại và giải pháp ứng dụng AI trong thiết kế bài giảng, kiểm tra, khảo thí, quản trị dữ liệu học tập. Đặc biệt, Hội thi “Agribanker làm chủ công nghệ trong kỷ nguyên số” đã trở thành điểm nhấn, khẳng định tư duy đổi mới và tinh thần tiên phong của Agribank trong phát triển năng lực số toàn diện cho cán bộ.

Agribank vươn mình trong “cuộc đua” số hóa
Hội thi “Agribanker làm chủ công nghệ trong kỷ nguyên số” đã tạo động lực mạnh mẽ, lan tỏa tinh thần học tập, làm chủ công nghệ trong toàn hệ thống

Năm 2025 đánh dấu bước chuyển mạnh về quy mô đào tạo của Agribank, thể hiện qua sự đổi mới về nội dung, phương pháp và chất lượng đào tạo. Theo đó, các chương trình đào tạo tiếp tục tập trung vào những nhóm đối tượng trọng tâm như lãnh đạo và quy hoạch các cấp, người lao động thuộc bộ phận thẩm định, khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân, chăm sóc khách hàng, an toàn thông tin, chuyển đổi số, kiểm tra giám sát nội bộ...

Đặc biệt, phạm vi đào tạo đã được mở rộng đối tượng và chương trình mới mới lần đầu triển khai như xây dựng cơ bản, công tác kế hoạch, tài chính số, IFRS, tư duy linh hoạt (Agile), phân tích dữ liệu, BA, quản lý dự án công nghệ thông tin, đặc biệt là các chương trình liên quan đến AI, ứng dụng AI trong công tác giảng dạy, nâng cao hiệu suất công việc, trong công tác truyền thông, kế toán, tín dụng…

Nhận nhiều giải thưởng uy tín

Với sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cả hệ thống Agribank trong chuyển đổi số, ngân hàng đã được ghi nhận bằng hàng loạt giải thưởng uy tín như: Bằng khen của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, TOP 10 Thương hiệu mạnh Việt Nam, Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2024 cho nền tảng Agribank Open API và gần đây nhất là giải thưởng Top 10 Sản phẩm - dịch vụ tin dùng 2024 cho ứng dụng Agribank Plus. Đến nay, Agribank đã có 12 ứng dụng/hệ thống công nghệ thông tin liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Sao Khuê cho hệ thống công nghệ thông tin xuất sắc lĩnh vực tài chính - ngân hàng và ngân hàng số.

Năm 2025, Trường Đào tạo Cán bộ đã tổ chức 116 chương trình; 431 lớp, phục vụ 375.750 lượt học viên; số ngày đào tạo bình quân đạt khoảng 13,7 ngày/người. Các đơn vị trong hệ thống cũng tự tổ chức đào tạo hơn 217.430 lượt người, cho thấy tinh thần chủ động học tập lan tỏa rộng rãi; số ngày tự đào tạo bình quân đạt 7,12 ngày/người.

Nội dung đào tạo trải rộng từ nghiệp vụ chuyên sâu đến kỹ năng số: tín dụng, kế toán - ngân quỹ, quản lý rủi ro, công nghệ thông tin, an toàn thông tin, phân tích dữ liệu, IFRS, Agile, BA, AI ứng dụng trong giảng dạy và vận hành… Trong đó, tín dụng, kế toán - ngân quỹ, chuyển đổi số, kiểm tra giám sát nội bộ là những nhóm lĩnh vực có tỷ lệ tham gia đào tạo cao nhất.

Bên cạnh đó, Agribank đã chủ động quan hệ hợp tác quốc tế với ngân hàng nước ngoài tổ chức diễn đàn, hội nghị, chương trình khảo sát nước ngoài liên quan đến thị trường cho vay Việt Nam, hoạt động thanh toán, chuyển đổi số, tài trợ thương mại..., cho một số đơn vị trong hệ thống Agribank.

Lan tỏa mạnh mẽ tinh thần học tập, đổi mới, sáng tạo

Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Giám đốc Trường Đào tạo Cán bộ Agribank cho biết, trong năm 2025, kế hoạch đào tạo, thi bổ sung đã được Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc phê duyệt tổ chức triển khai gồm 13 chương trình đào tạo và 1 hội thi với chủ đề “Agribanker làm chủ công nghệ trong kỷ nguyên số”. Các cuộc thi hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức và kỹ năng số cho cán bộ, người lao động trên toàn hệ thống.

Đặc biệt, chương trình đào tạo dành cho lãnh đạo cấp cao của Agribank, gồm 3 chương trình chuyên biệt, tập trung trang bị kiến thức và kỹ năng lãnh đạo trong môi trường số. Chương trình nhằm nâng cao năng lực điều hành, hỗ trợ công tác chỉ đạo, hoạch định chính sách và dẫn dắt hiệu quả tiến trình chuyển đổi số trong toàn hệ thống Agribank.

Song song với đó, Agribank phát động phong trào thi đua theo chủ đề “Mỗi quý một kỹ năng số”, “Gương sáng số hóa”, “Kinh nghiệm học số hay”, “Mẹo công nghệ hữu ích”... trên toàn hệ thống, nhằm lan tỏa tinh thần học tập, đổi mới, sáng tạo và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số tại từng đơn vị.

Điểm nhấn rõ nét nhất trong hành trình “xây dựng nền móng” chuyển đổi số của Agribank chính là việc Trường Đào tạo Cán bộ Agribank đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội thi “Agribanker làm chủ công nghệ trong kỷ nguyên số”. Hội thi đã được tổ chức đồng loạt cho toàn thể người lao động trong hệ thống, với quy mô hơn 35.760 người lao động tham gia dự thi.

“Agribanker làm chủ công nghệ trong kỷ nguyên số” đã góp phần thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 77-KH/ĐU của Đảng ủy Agribank về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và chương trình “Bình dân học vụ số” do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước phát động” - Giám đốc Trường Đào tạo Cán bộ nhấn mạnh.

Có thể nói, trong nhiều năm qua, Agribank nhất quán triển khai chuyển đổi số với “triết lý” lấy khách hàng làm trung tâm. Ngân hàng liên tục hoàn thiện hệ sinh thái ngân hàng số như Agribank Digital, Agribank Plus, Open Smart Bank, eKYC và các nền tảng API kết nối doanh nghiệp nhằm gia tăng tiện ích và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Đó là minh chứng rõ ràng cho sự phát triển mạnh mẽ và sự đổi mới không ngừng của Agribank trong việc áp dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng.

Đào tạo giữ vai trò trụ cột trong chiến lược phát triển

Năm 2025 được đánh giá là năm công tác đào tạo của Agribank thực sự chuyển mình mạnh mẽ, hướng tới tương lai với tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng làm chủ công nghệ.

Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank Tô Huy Vũ cho rằng: “Agribank đang bước vào giai đoạn phát triển mới, hướng tới mô hình ngân hàng thương mại hiện đại, hội nhập và chuyển đổi số mạnh mẽ; đồng thời giữ vững vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn.

“Chúng ta cần xây dựng đội ngũ nhân sự vừa có năng lực chuyên môn sâu rộng và tầm nhìn dài hạn, vừa sở hữu phẩm chất đạo đức và kỹ năng mềm vững vàng, đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của Agribank” - lãnh đạo Agribank nhấn mạnh.

Lãnh đạo Agribank yêu cầu thời gian tới, công tác đào tạo phải đổi mới toàn diện, coi đây là nền tảng chiến lược để xây dựng đội ngũ Agribanker xuất sắc. Agribank cần đẩy mạnh học tập số, ứng dụng các mô hình hiện đại như Blended Learning, Micro Learning, Gamification và triển khai nghiêm túc mô hình 70:20:10, trong đó học từ thực tiễn chiếm tỷ trọng lớn nhất.

Chương trình đào tạo phải tinh gọn, khoa học và bám sát nhu cầu công việc, đồng thời giúp cán bộ phát triển tư duy chiến lược, kỹ năng phân tích dữ liệu, quản trị hiện đại và khả năng ứng dụng công nghệ. Song song với chuyên môn, nội dung đào tạo phải nuôi dưỡng văn hóa chính trực, tuân thủ và kiểm soát, coi đây là nền tảng đạo đức của một tổ chức tài chính bền vững. Đặc biệt, mỗi Agribanker cần được đào tạo để có tinh thần dám nghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm.

Phạm Giang

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80