Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long

(TBTCO) - Tín dụng đang trở thành “điểm tựa” quan trọng phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Dòng vốn ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn, mà còn giúp hình thành các chuỗi liên kết, mở rộng sản xuất quy mô lớn và tăng giá trị nông sản. Đến cuối tháng 10/2025, dư nợ nông nghiệp đạt 258.295 tỷ đồng, chiếm hơn 18% toàn vùng.
aa

“Điểm tựa” phát triển nông nghiệp

Sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, việc tiếp tục duy trì và mở rộng các nguồn vốn tín dụng ưu đãi được xác định là giải pháp trọng tâm. Chính sách này khuyến khích tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay lĩnh vực “tam nông”, hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ nông thôn phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho người dân.

Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế và tham gia sâu hơn vào hội nhập quốc tế, trong đó tại ĐBSCL, dòng vốn tín dụng trở thành “điểm tựa” quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp.

Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13, 14, 15. Đồ hoạ: Tú Anh

Sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, khu vực ĐBSCL hiện có 3 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực: Khu vực 13 (Tây Ninh - Đồng Tháp), Khu vực 14 (TP. Cần Thơ - Vĩnh Long) và Khu vực 15 (An Giang - Cà Mau). Quy mô dư nợ tín dụng đến cuối tháng 10/2025 đạt 1.416.876 tỷ đồng. Riêng tín dụng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 258.295 tỷ đồng, chiếm 18,23% tổng dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL; tín dụng xuất khẩu là 67.017 tỷ đồng, chiếm 4,80%.

Bên cạnh đó, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh cho vay theo những chương trình tín dụng chuyên biệt phục vụ trồng trọt, nuôi trồng, khai thác, thu mua, tiêu thụ và chế biến nông sản.

Nguồn vốn ngân hàng không chỉ giải quyết nhu cầu vốn, mà còn đóng vai trò như một “chất xúc tác” quan trọng, giúp nông sản vùng nâng tầm giá trị, gia tăng hiệu quả sản xuất và góp phần đổi mới diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững.

Nâng tầm giá trị nông nghiệp và mở rộng chuỗi liên kết

"Thực tế cho thấy, An Giang có thế mạnh truyền thống về nông nghiệp. Dòng vốn tín dụng giữ vai trò then chốt, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân địa phương xây dựng các chuỗi liên kết, phát triển mô hình sản xuất quy mô lớn và mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại. Đây cũng là “điểm tựa” vững chắc, tạo đòn bẩy giúp vùng phát huy tối đa lợi thế về lúa gạo, trái cây và thủy hải sản, đưa nhiều mặt hàng vươn lên dẫn đầu thế giới. Đời sống và thu nhập của nông hộ không ngừng cải thiện, diện mạo nông thôn đổi mới mạnh mẽ".

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Theo chia sẻ của ông Huỳnh Văn Thòn - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời, những năm qua, nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi từ các ngân hàng đã đồng hành chặt chẽ cùng doanh nghiệp. Nhờ đó, Lộc Trời có thể cung ứng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân ngay từ đầu vụ với mức lãi suất 0% và thu hồi vốn vào cuối vụ khi thu mua nông sản. Mỗi năm, diện tích liên kết sản xuất đạt khoảng 50.000 ha, trải rộng trên toàn tỉnh An Giang. Lộc Trời cũng chuẩn hóa nông sản thông qua việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững và liên kết với hàng trăm nghìn nông hộ.

Ông Trần Văn Lô Ba - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Phú Thạnh (xã Chợ Vàm - tỉnh An Giang) cũng cho biết, Hợp tác xã được tỉnh giao sản xuất 50 ha theo quy trình của Đề án 1 triệu ha và được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, thấp hơn 1%. Nhờ đó, chi phí sản xuất giảm hơn 5 triệu đồng mỗi ha, còn lợi nhuận tăng thêm hơn 5 triệu đồng mỗi ha. Nông dân rất phấn khởi và cam kết sẽ mở rộng diện tích trong vụ đông xuân 2025 - 2026.

Gỡ rào cản, tạo bước chuyển mới cho nông nghiệp

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp ĐBSCL vẫn đối mặt nhiều khó khăn, thử thách. Bản chất nông, thuỷ sản dễ hư hỏng, thiếu kho lạnh và tiêu chuẩn đồng bộ khiến doanh nghiệp khó bảo quản, khó mở rộng thị trường xuất khẩu bền vững.

Cùng với đó, ĐBSCL giữ vị trí chiến lược, là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất cả nước với các sản phẩm chủ lực như lúa gạo, trái cây và thủy hải sản. Tuy vậy, khu vực này cũng đang đối mặt nhiều thách thức lớn do tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, tình trạng hạn mặn diễn biến phức tạp và sự suy thoái đất do canh tác kéo dài.

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) cho biết, các mặt hàng nông, thủy sản, đặc biệt là tôm và rau quả khó chuẩn hóa do tính chất dễ hư hỏng, mùa vụ và thiếu dữ liệu công khai về tồn kho, cũng như giá cả. Việt Nam vẫn chưa có hệ thống dữ liệu tập trung, chuẩn mực, truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ.

Qua đó, lãnh đạo Antesco cho rằng, giải pháp mang tính quyết định là xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch theo chuẩn quốc tế; đồng thời, chuẩn hóa sản phẩm theo các tiêu chuẩn như: GlobalGAP, ESG hay Carbon Footprint... Bên cạnh đó, cần đầu tư đồng bộ vào kho lạnh, đồng bộ hệ thống tài chính, ngân hàng, hải quan và logistics.

"Cần các chính sách ưu đãi tín dụng và thuế cho những doanh nghiệp tiên phong tham gia thí điểm ở các mặt hàng có thị trường ổn định như cá tra, tôm và trái cây" - ông Minh mong mỏi.

Còn theo ông Trần Trương Tấn Tài - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam, trong bối cảnh thị trường lúa gạo thế giới được dự báo vẫn trong tình trạng cung lớn hơn cầu, Việt Nam cần tích cực tìm kiếm và mở rộng các thị trường mới. Tuy nhiên, để thâm nhập sâu hơn vào các thị trường cao cấp như Nhật Bản, châu Âu hay Mỹ, các doanh nghiệp cần đầu tư lớn hơn vào việc chuyển đổi sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng cao và an toàn.

Trong đó, việc giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp không chỉ giúp ổn định giá nội địa, mà còn là động lực quan trọng để doanh nghiệp chủ động hơn trong chiến lược xuất khẩu, đảm bảo vị thế của hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế.

Bồi đắp những “mùa vàng” mới cho Đồng bằng sông Cửu Long

Từ những cánh đồng lúa bạt ngàn, đến những nhà máy chế biến gạo xuất khẩu, vườn cây ăn trái trĩu quả hay vùng nuôi cá tra mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước đều là minh chứng sinh động cho hiệu quả của dòng vốn dành cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nguồn vốn ấy không chỉ nuôi dưỡng khát vọng làm giàu chính đáng của người dân, mà còn góp phần xây dựng nền nông nghiệp ĐBSCL phát triển xanh, hiệu quả và đậm bản sắc.

Là ngân hàng luôn sát cánh và đồng hành cùng doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ hợp tác trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, ông Nguyễn Văn Hoàng - Phó Giám đốc ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang chia sẻ, đến nay dư nợ tín dụng tại đơn vị trên 22.000 tỷ đồng, trong đó, trên 70% dư nợ chủ yếu tập trung hướng dòng vốn tín dụng đầu tư vào ngành hàng sản xuất chủ lực có thế mạnh tại địa phương như: lúa, gạo, thủy sản và trái cây đặc sản.

Ngân hàng cũng chủ động đẩy mạnh cho vay đối với doanh nghiệp chế biến lúa gạo, cá tra, trái cây, góp phần hình thành và mở rộng các chuỗi liên kết sản xuất theo hướng giá trị gia tăng.

Các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực đang tiếp tục thúc đẩy tín dụng nông, lâm, thủy sản, tháo gỡ nút thắt cho vay nông nghiệp công nghệ cao; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, ứng dụng công nghệ và phấn đấu giảm lãi vay để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Qua đó, tạo nền tảng cho không gian phát triển rộng mở của ĐBSCL sau sáp nhập.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

(TBTCO) - Tham gia sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) giới thiệu hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số với hai điểm nhấn là ứng dụng LPBank Plus và giải pháp Lộc Phát Shop, qua đó khẳng định những bước tiến trong ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80