Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long

(TBTCO) - Tín dụng đang trở thành “điểm tựa” quan trọng phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Dòng vốn ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn, mà còn giúp hình thành các chuỗi liên kết, mở rộng sản xuất quy mô lớn và tăng giá trị nông sản. Đến cuối tháng 10/2025, dư nợ nông nghiệp đạt 258.295 tỷ đồng, chiếm hơn 18% toàn vùng.
aa

“Điểm tựa” phát triển nông nghiệp

Sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, việc tiếp tục duy trì và mở rộng các nguồn vốn tín dụng ưu đãi được xác định là giải pháp trọng tâm. Chính sách này khuyến khích tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay lĩnh vực “tam nông”, hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ nông thôn phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho người dân.

Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế và tham gia sâu hơn vào hội nhập quốc tế, trong đó tại ĐBSCL, dòng vốn tín dụng trở thành “điểm tựa” quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp.

Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13, 14, 15. Đồ hoạ: Tú Anh

Sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, khu vực ĐBSCL hiện có 3 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực: Khu vực 13 (Tây Ninh - Đồng Tháp), Khu vực 14 (TP. Cần Thơ - Vĩnh Long) và Khu vực 15 (An Giang - Cà Mau). Quy mô dư nợ tín dụng đến cuối tháng 10/2025 đạt 1.416.876 tỷ đồng. Riêng tín dụng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 258.295 tỷ đồng, chiếm 18,23% tổng dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL; tín dụng xuất khẩu là 67.017 tỷ đồng, chiếm 4,80%.

Bên cạnh đó, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh cho vay theo những chương trình tín dụng chuyên biệt phục vụ trồng trọt, nuôi trồng, khai thác, thu mua, tiêu thụ và chế biến nông sản.

Nguồn vốn ngân hàng không chỉ giải quyết nhu cầu vốn, mà còn đóng vai trò như một “chất xúc tác” quan trọng, giúp nông sản vùng nâng tầm giá trị, gia tăng hiệu quả sản xuất và góp phần đổi mới diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững.

Nâng tầm giá trị nông nghiệp và mở rộng chuỗi liên kết

"Thực tế cho thấy, An Giang có thế mạnh truyền thống về nông nghiệp. Dòng vốn tín dụng giữ vai trò then chốt, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân địa phương xây dựng các chuỗi liên kết, phát triển mô hình sản xuất quy mô lớn và mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại. Đây cũng là “điểm tựa” vững chắc, tạo đòn bẩy giúp vùng phát huy tối đa lợi thế về lúa gạo, trái cây và thủy hải sản, đưa nhiều mặt hàng vươn lên dẫn đầu thế giới. Đời sống và thu nhập của nông hộ không ngừng cải thiện, diện mạo nông thôn đổi mới mạnh mẽ".

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Theo chia sẻ của ông Huỳnh Văn Thòn - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời, những năm qua, nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi từ các ngân hàng đã đồng hành chặt chẽ cùng doanh nghiệp. Nhờ đó, Lộc Trời có thể cung ứng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân ngay từ đầu vụ với mức lãi suất 0% và thu hồi vốn vào cuối vụ khi thu mua nông sản. Mỗi năm, diện tích liên kết sản xuất đạt khoảng 50.000 ha, trải rộng trên toàn tỉnh An Giang. Lộc Trời cũng chuẩn hóa nông sản thông qua việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững và liên kết với hàng trăm nghìn nông hộ.

Ông Trần Văn Lô Ba - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Phú Thạnh (xã Chợ Vàm - tỉnh An Giang) cũng cho biết, Hợp tác xã được tỉnh giao sản xuất 50 ha theo quy trình của Đề án 1 triệu ha và được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, thấp hơn 1%. Nhờ đó, chi phí sản xuất giảm hơn 5 triệu đồng mỗi ha, còn lợi nhuận tăng thêm hơn 5 triệu đồng mỗi ha. Nông dân rất phấn khởi và cam kết sẽ mở rộng diện tích trong vụ đông xuân 2025 - 2026.

Gỡ rào cản, tạo bước chuyển mới cho nông nghiệp

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp ĐBSCL vẫn đối mặt nhiều khó khăn, thử thách. Bản chất nông, thuỷ sản dễ hư hỏng, thiếu kho lạnh và tiêu chuẩn đồng bộ khiến doanh nghiệp khó bảo quản, khó mở rộng thị trường xuất khẩu bền vững.

Cùng với đó, ĐBSCL giữ vị trí chiến lược, là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất cả nước với các sản phẩm chủ lực như lúa gạo, trái cây và thủy hải sản. Tuy vậy, khu vực này cũng đang đối mặt nhiều thách thức lớn do tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, tình trạng hạn mặn diễn biến phức tạp và sự suy thoái đất do canh tác kéo dài.

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) cho biết, các mặt hàng nông, thủy sản, đặc biệt là tôm và rau quả khó chuẩn hóa do tính chất dễ hư hỏng, mùa vụ và thiếu dữ liệu công khai về tồn kho, cũng như giá cả. Việt Nam vẫn chưa có hệ thống dữ liệu tập trung, chuẩn mực, truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ.

Qua đó, lãnh đạo Antesco cho rằng, giải pháp mang tính quyết định là xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch theo chuẩn quốc tế; đồng thời, chuẩn hóa sản phẩm theo các tiêu chuẩn như: GlobalGAP, ESG hay Carbon Footprint... Bên cạnh đó, cần đầu tư đồng bộ vào kho lạnh, đồng bộ hệ thống tài chính, ngân hàng, hải quan và logistics.

"Cần các chính sách ưu đãi tín dụng và thuế cho những doanh nghiệp tiên phong tham gia thí điểm ở các mặt hàng có thị trường ổn định như cá tra, tôm và trái cây" - ông Minh mong mỏi.

Còn theo ông Trần Trương Tấn Tài - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam, trong bối cảnh thị trường lúa gạo thế giới được dự báo vẫn trong tình trạng cung lớn hơn cầu, Việt Nam cần tích cực tìm kiếm và mở rộng các thị trường mới. Tuy nhiên, để thâm nhập sâu hơn vào các thị trường cao cấp như Nhật Bản, châu Âu hay Mỹ, các doanh nghiệp cần đầu tư lớn hơn vào việc chuyển đổi sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng cao và an toàn.

Trong đó, việc giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp không chỉ giúp ổn định giá nội địa, mà còn là động lực quan trọng để doanh nghiệp chủ động hơn trong chiến lược xuất khẩu, đảm bảo vị thế của hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế.

Bồi đắp những “mùa vàng” mới cho Đồng bằng sông Cửu Long

Từ những cánh đồng lúa bạt ngàn, đến những nhà máy chế biến gạo xuất khẩu, vườn cây ăn trái trĩu quả hay vùng nuôi cá tra mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước đều là minh chứng sinh động cho hiệu quả của dòng vốn dành cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nguồn vốn ấy không chỉ nuôi dưỡng khát vọng làm giàu chính đáng của người dân, mà còn góp phần xây dựng nền nông nghiệp ĐBSCL phát triển xanh, hiệu quả và đậm bản sắc.

Là ngân hàng luôn sát cánh và đồng hành cùng doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ hợp tác trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, ông Nguyễn Văn Hoàng - Phó Giám đốc ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang chia sẻ, đến nay dư nợ tín dụng tại đơn vị trên 22.000 tỷ đồng, trong đó, trên 70% dư nợ chủ yếu tập trung hướng dòng vốn tín dụng đầu tư vào ngành hàng sản xuất chủ lực có thế mạnh tại địa phương như: lúa, gạo, thủy sản và trái cây đặc sản.

Ngân hàng cũng chủ động đẩy mạnh cho vay đối với doanh nghiệp chế biến lúa gạo, cá tra, trái cây, góp phần hình thành và mở rộng các chuỗi liên kết sản xuất theo hướng giá trị gia tăng.

Các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực đang tiếp tục thúc đẩy tín dụng nông, lâm, thủy sản, tháo gỡ nút thắt cho vay nông nghiệp công nghệ cao; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, ứng dụng công nghệ và phấn đấu giảm lãi vay để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Qua đó, tạo nền tảng cho không gian phát triển rộng mở của ĐBSCL sau sáp nhập.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80