Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long

(TBTCO) - Tín dụng đang trở thành “điểm tựa” quan trọng phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Dòng vốn ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn, mà còn giúp hình thành các chuỗi liên kết, mở rộng sản xuất quy mô lớn và tăng giá trị nông sản. Đến cuối tháng 10/2025, dư nợ nông nghiệp đạt 258.295 tỷ đồng, chiếm hơn 18% toàn vùng.
aa

“Điểm tựa” phát triển nông nghiệp

Sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, việc tiếp tục duy trì và mở rộng các nguồn vốn tín dụng ưu đãi được xác định là giải pháp trọng tâm. Chính sách này khuyến khích tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay lĩnh vực “tam nông”, hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ nông thôn phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho người dân.

Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế và tham gia sâu hơn vào hội nhập quốc tế, trong đó tại ĐBSCL, dòng vốn tín dụng trở thành “điểm tựa” quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp.

Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13, 14, 15. Đồ hoạ: Tú Anh

Sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, khu vực ĐBSCL hiện có 3 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực: Khu vực 13 (Tây Ninh - Đồng Tháp), Khu vực 14 (TP. Cần Thơ - Vĩnh Long) và Khu vực 15 (An Giang - Cà Mau). Quy mô dư nợ tín dụng đến cuối tháng 10/2025 đạt 1.416.876 tỷ đồng. Riêng tín dụng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 258.295 tỷ đồng, chiếm 18,23% tổng dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL; tín dụng xuất khẩu là 67.017 tỷ đồng, chiếm 4,80%.

Bên cạnh đó, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh cho vay theo những chương trình tín dụng chuyên biệt phục vụ trồng trọt, nuôi trồng, khai thác, thu mua, tiêu thụ và chế biến nông sản.

Nguồn vốn ngân hàng không chỉ giải quyết nhu cầu vốn, mà còn đóng vai trò như một “chất xúc tác” quan trọng, giúp nông sản vùng nâng tầm giá trị, gia tăng hiệu quả sản xuất và góp phần đổi mới diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững.

Nâng tầm giá trị nông nghiệp và mở rộng chuỗi liên kết

"Thực tế cho thấy, An Giang có thế mạnh truyền thống về nông nghiệp. Dòng vốn tín dụng giữ vai trò then chốt, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân địa phương xây dựng các chuỗi liên kết, phát triển mô hình sản xuất quy mô lớn và mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại. Đây cũng là “điểm tựa” vững chắc, tạo đòn bẩy giúp vùng phát huy tối đa lợi thế về lúa gạo, trái cây và thủy hải sản, đưa nhiều mặt hàng vươn lên dẫn đầu thế giới. Đời sống và thu nhập của nông hộ không ngừng cải thiện, diện mạo nông thôn đổi mới mạnh mẽ".

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Theo chia sẻ của ông Huỳnh Văn Thòn - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời, những năm qua, nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi từ các ngân hàng đã đồng hành chặt chẽ cùng doanh nghiệp. Nhờ đó, Lộc Trời có thể cung ứng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân ngay từ đầu vụ với mức lãi suất 0% và thu hồi vốn vào cuối vụ khi thu mua nông sản. Mỗi năm, diện tích liên kết sản xuất đạt khoảng 50.000 ha, trải rộng trên toàn tỉnh An Giang. Lộc Trời cũng chuẩn hóa nông sản thông qua việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững và liên kết với hàng trăm nghìn nông hộ.

Ông Trần Văn Lô Ba - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Phú Thạnh (xã Chợ Vàm - tỉnh An Giang) cũng cho biết, Hợp tác xã được tỉnh giao sản xuất 50 ha theo quy trình của Đề án 1 triệu ha và được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, thấp hơn 1%. Nhờ đó, chi phí sản xuất giảm hơn 5 triệu đồng mỗi ha, còn lợi nhuận tăng thêm hơn 5 triệu đồng mỗi ha. Nông dân rất phấn khởi và cam kết sẽ mở rộng diện tích trong vụ đông xuân 2025 - 2026.

Gỡ rào cản, tạo bước chuyển mới cho nông nghiệp

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp ĐBSCL vẫn đối mặt nhiều khó khăn, thử thách. Bản chất nông, thuỷ sản dễ hư hỏng, thiếu kho lạnh và tiêu chuẩn đồng bộ khiến doanh nghiệp khó bảo quản, khó mở rộng thị trường xuất khẩu bền vững.

Cùng với đó, ĐBSCL giữ vị trí chiến lược, là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất cả nước với các sản phẩm chủ lực như lúa gạo, trái cây và thủy hải sản. Tuy vậy, khu vực này cũng đang đối mặt nhiều thách thức lớn do tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, tình trạng hạn mặn diễn biến phức tạp và sự suy thoái đất do canh tác kéo dài.

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) cho biết, các mặt hàng nông, thủy sản, đặc biệt là tôm và rau quả khó chuẩn hóa do tính chất dễ hư hỏng, mùa vụ và thiếu dữ liệu công khai về tồn kho, cũng như giá cả. Việt Nam vẫn chưa có hệ thống dữ liệu tập trung, chuẩn mực, truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ.

Qua đó, lãnh đạo Antesco cho rằng, giải pháp mang tính quyết định là xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch theo chuẩn quốc tế; đồng thời, chuẩn hóa sản phẩm theo các tiêu chuẩn như: GlobalGAP, ESG hay Carbon Footprint... Bên cạnh đó, cần đầu tư đồng bộ vào kho lạnh, đồng bộ hệ thống tài chính, ngân hàng, hải quan và logistics.

"Cần các chính sách ưu đãi tín dụng và thuế cho những doanh nghiệp tiên phong tham gia thí điểm ở các mặt hàng có thị trường ổn định như cá tra, tôm và trái cây" - ông Minh mong mỏi.

Còn theo ông Trần Trương Tấn Tài - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam, trong bối cảnh thị trường lúa gạo thế giới được dự báo vẫn trong tình trạng cung lớn hơn cầu, Việt Nam cần tích cực tìm kiếm và mở rộng các thị trường mới. Tuy nhiên, để thâm nhập sâu hơn vào các thị trường cao cấp như Nhật Bản, châu Âu hay Mỹ, các doanh nghiệp cần đầu tư lớn hơn vào việc chuyển đổi sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng cao và an toàn.

Trong đó, việc giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp không chỉ giúp ổn định giá nội địa, mà còn là động lực quan trọng để doanh nghiệp chủ động hơn trong chiến lược xuất khẩu, đảm bảo vị thế của hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế.

Bồi đắp những “mùa vàng” mới cho Đồng bằng sông Cửu Long

Từ những cánh đồng lúa bạt ngàn, đến những nhà máy chế biến gạo xuất khẩu, vườn cây ăn trái trĩu quả hay vùng nuôi cá tra mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước đều là minh chứng sinh động cho hiệu quả của dòng vốn dành cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nguồn vốn ấy không chỉ nuôi dưỡng khát vọng làm giàu chính đáng của người dân, mà còn góp phần xây dựng nền nông nghiệp ĐBSCL phát triển xanh, hiệu quả và đậm bản sắc.

Là ngân hàng luôn sát cánh và đồng hành cùng doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ hợp tác trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, ông Nguyễn Văn Hoàng - Phó Giám đốc ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang chia sẻ, đến nay dư nợ tín dụng tại đơn vị trên 22.000 tỷ đồng, trong đó, trên 70% dư nợ chủ yếu tập trung hướng dòng vốn tín dụng đầu tư vào ngành hàng sản xuất chủ lực có thế mạnh tại địa phương như: lúa, gạo, thủy sản và trái cây đặc sản.

Ngân hàng cũng chủ động đẩy mạnh cho vay đối với doanh nghiệp chế biến lúa gạo, cá tra, trái cây, góp phần hình thành và mở rộng các chuỗi liên kết sản xuất theo hướng giá trị gia tăng.

Các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực đang tiếp tục thúc đẩy tín dụng nông, lâm, thủy sản, tháo gỡ nút thắt cho vay nông nghiệp công nghệ cao; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, ứng dụng công nghệ và phấn đấu giảm lãi vay để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Qua đó, tạo nền tảng cho không gian phát triển rộng mở của ĐBSCL sau sáp nhập.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

(TBTCO) - Việc đồng thời nhận hai giải thưởng tại Global Banking & Finance Awards® 2026 cho thấy dấu ấn ngày càng rõ nét của ABBank trong chuyển đổi số và mở rộng hoạt động bán lẻ. Đây cũng là sự ghi nhận quốc tế đối với chiến lược đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao trải nghiệm khách hàng của ABBank.
HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17587 17860 18440
CAD 17958 18233 18848
CHF 31805 32186 32836
CNY 0 3829 3922
EUR 29320 29540 30618
GBP 34049 34439 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14609 15197
SGD 19744 20026 20591
THB 703 766 819
USD (1,2) 26032 0 0
USD (5,10,20) 26073 0 0
USD (50,100) 26102 26116 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26105 26105 26466
AUD 17767 17867 18798
CAD 18136 18236 19248
CHF 32055 32085 33671
CNY 3809.5 3834.5 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29508 29538 31263
GBP 34325 34375 36136
HKD 0 3355 0
JPY 158.08 158.58 169.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14720 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19903 20033 20755
THB 0 732.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80