Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
aa
Đại hội đồng cổ đông VPBank: Tổng tài sản chuẩn bị cán mốc 1 triệu tỷ đồng, GPBank sắp "hồi sinh" CAEX tiến gần cột mốc vốn 10.000 tỷ đồng, VPBankS góp thêm 1.097 tỷ đồng Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Đẩy tín dụng tăng 34%, tăng tốc huy động vốn

Chiều ngày 22/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank - mã Ck: VPB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, trong đó cập nhật nhiều nội dung đáng chú ý về cổ tức và kế hoạch kinh doanh.

Lúc 14h09, đại hội ghi nhận 453 cổ đông tham dự trực tiếp và nhận ủy quyền, đại diện cho 5,069 tỷ cổ phần, tương ứng 63,89% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2025, qua đó, trở thành ngân hàng tư nhân đầu tiên lên kế hoạch lãi trên 40.000 tỷ đồng. Về các chỉ tiêu về quy mô hoạt động, VPBank đặt mục tiêu đạt tổng tài sản dự kiến đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 29%; dư nợ cấp tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng mạnh 34%. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá ước hơn 1,03 triệu tỷ đồng, tăng 40%.

Về kế hoạch kinh doanh, với riêng ngân hàng mẹ, VPBank lên kế hoạch lợi nhuận trước thuế 34.240 tỷ đồng (tăng 30%); tổng tài sản gần 1,5 triệu tỷ đồng (tăng 27%). Dư nợ tín dụng dự kiến đạt gần 1,15 triệu tỷ đồng (tăng 35%). Đồng thời, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2,5% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại các công ty con, FE Credit đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.179 tỷ đồng (tăng 93%), VPBankS dự kiến đạt 6.453 tỷ đồng (tăng 44%) và OPES khoảng 936 tỷ đồng (tăng 47%).

Với quy mô khách hàng ngày càng mở rộng, nên tảng vốn vững mạnh, mô hình quản trị tập đoàn từng bước phát huy hiệu quả và hệ sinh thái tài chính được hoàn thiện, VPBank bước vào năm 2026 với tâm thế sẵn sàng cho giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn.

đại hội đồng cổ đông VPBank
VPBank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.

Trình bày về định hướng kinh doanh năm 2026, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nhấn mạnh, trong năm 2026 và các năm tiếp theo, ưu tiên lớn nhất của VPBank là chuẩn bị hệ thống nền tảng và hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới. Ngân hàng đã và đang đầu tư rất lớn vào các lĩnh vực cốt lõi như công nghệ, dữ liệu và hệ thống quản trị rủi ro. Đặc biệt, với sự hợp tác và hỗ trợ từ đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC).

Theo Tổng giám đốc VPBank, nếu như năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động rất nhanh, đạt hơn 35 - 36%, trong đó, huy động 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế, thì trong năm nay ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng huy động thêm 40%.

Theo đó, VPBank dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD từ các nguồn vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng. Bởi lẽ, không có vốn thì không thể tăng trưởng. Để tăng trưởng huy động tới 40%/năm, tương đương tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng, là nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với bất kỳ tổ chức nào.

"Đó là chiến lược cơ bản và nền tảng để tạo ra cho sự tăng trưởng cao. Không có funding (nguồn vốn), không có cách gì chúng ta tăng trưởng. Đấy là nguồn huy động từ cá nhân, doanh nghiệp và cũng như các nguồn quốc tế đã được chúng ta đa dạng và mở rộng sang thị trường Nhật" - ông Vinh nhấn mạnh.

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa
Nguồn: VPBank.

Theo tờ trình, ngân hàng dự kiến chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt với tỷ lệ 5%, thời gian thực hiện trong quý II hoặc quý III/2026, thời điểm cụ thể do HĐQT quyết định. Tổng số tiền chi trả ước khoảng 4.000 tỷ đồng; sau phân phối, lợi nhuận giữ lại còn 15.986 tỷ đồng.

Đồng thời, HĐQT đề xuất tăng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, tương ứng tỷ lệ 26,04%. Bên cạnh đó, VPBank dự kiến phát hành riêng lẻ hơn 624 triệu cổ phiếu cho 01 nhà đầu tư nước ngoài, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm hơn 6.243 tỷ đồng. Đối tượng nhận phát hành có thể là cổ đông chiến lược hiện hữu hoặc một tổ chức nước ngoài khác đáp ứng đủ năng lực tài chính.

Sau khi hoàn tất cả hai phương án, vốn điều lệ của VPBank dự kiến đạt 106.244 tỷ đồng, vươn lên mức cao nhất hệ thống tại thời điểm hiện tại.

Sẵn sàng vận hành sàn CAEX

Tại Đại hội đồng cổ đông, cổ đông của VPBank tập trung vào nhiều vấn đề then chốt về kế hoạch kinh doanh năm 2026 của VPBank; ngân hàng chấp nhận duy trì mức lãi suất cao để đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng tín dụng. Các câu hỏi cũng xoay quanh tỷ lệ nợ xấu cao hơn mặt bằng, triển vọng biên lãi ròng (NIM), định hướng tín dụng bất động sản và rủi ro chênh lệch thanh khoản khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Bên cạnh đó, cổ đông đặc biệt quan tâm đến kế hoạch phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, cũng như giá cổ phiếu VPB...

đại hội đồng cổ đông VPBank

Nói về dự định trong lĩnh vực tài sản mã hóa, Tổng giám đốc VPBank cho biết VPBank cũng đã hợp tác với một số đối tác nước ngoài như: OKX và Tập đoàn Haskey, để triển khai đề án thành lập các công ty vận hành sàn giao dịch tài sản mã hóa trong nước.

Lãnh đạo VPBank cho biết, ngân hàng không trực tiếp kinh doanh tài sản mã hóa, mà tập trung cung cấp dịch vụ giao dịch và lưu ký, đảm bảo tuân thủ quy định và an toàn cho thị trường.

Về vấn đề này, ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch HĐQT VPBank bổ sung thêm, đề án CAEX hiện đã được VPBank chuẩn bị tương đối sẵn sàng, trong đó, đang triển khai góp đủ 10.000 tỷ đồng vốn và tính toán phương án kiểm soát hiệu quả nguồn vốn.

Song song, trong 6 tháng qua, ngân hàng đã xây dựng hệ thống dịch vụ đồng bộ bao gồm lưu ký (custody), ngân hàng lưu ký, thanh khoản (liquidity)... Đồng thời, phối hợp với các cơ quan quản lý như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong quá trình kiểm định, đánh giá các điều kiện vận hành.

"Hy vọng rằng CAEX sẽ được đón nhận trên thị trường. VPBank hiện cùng với các công ty thành viên như: VPBankS đã tham gia trực tiếp vào hoạt động và vận hành sàn giao dịch này" - lãnh đạo VPBank nêu rõ.

Trước băn khoăn của cổ đông về tỷ lệ nợ xấu của VPBank cao hơn so với một số ngân hàng khác, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nêu rõ, đây không phải là câu hỏi mới, mà đã được đặt ra tại nhiều kỳ Đại hội cổ đông trong suốt nhiều năm qua. Việc chấp nhận mức nợ xấu cao hơn xuất phát từ đặc thù mô hình kinh doanh và cấu trúc danh mục cho vay khác biệt so với mặt bằng chung của thị trường.

VPBank cũng là ngân hàng cho vay tín chấp lớn nhất, ngân hàng cho vay tài chính tiêu dùng lớn nhất, là ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn nhất. Với đặc thù này, các phân khúc cho vay của ngân hàng có mức độ rủi ro khác biệt và không thể so sánh trực tiếp với tỷ lệ nợ xấu của nhóm doanh nghiệp lớn, vốn có khả năng tái cấu trúc tốt hơn nhiều so với doanh nghiệp nhỏ. Trong mô hình hoạt động, VPBank xác định rõ mỗi phân khúc có một mức rủi ro riêng.

Với FE Credit, sau Covid-19, công ty từng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng cao, có thời điểm lên tới khoảng trên dưới 20%, tuy nhiên, năm vừa qua đã giảm xuống còn 14,4% và mục tiêu trong thời gian tới là tiếp tục tái cấu trúc mô hình, phương thức hoạt động để đưa tỷ lệ này về ngưỡng 11 - 12%, mức được xem là chấp nhận được đối với lĩnh vực tài chính tiêu dùng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30