Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
aa
Đại hội đồng cổ đông VPBank: Tổng tài sản chuẩn bị cán mốc 1 triệu tỷ đồng, GPBank sắp "hồi sinh" CAEX tiến gần cột mốc vốn 10.000 tỷ đồng, VPBankS góp thêm 1.097 tỷ đồng Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Đẩy tín dụng tăng 34%, tăng tốc huy động vốn

Chiều ngày 22/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank - mã Ck: VPB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, trong đó cập nhật nhiều nội dung đáng chú ý về cổ tức và kế hoạch kinh doanh.

Lúc 14h09, đại hội ghi nhận 453 cổ đông tham dự trực tiếp và nhận ủy quyền, đại diện cho 5,069 tỷ cổ phần, tương ứng 63,89% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2025, qua đó, trở thành ngân hàng tư nhân đầu tiên lên kế hoạch lãi trên 40.000 tỷ đồng. Về các chỉ tiêu về quy mô hoạt động, VPBank đặt mục tiêu đạt tổng tài sản dự kiến đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 29%; dư nợ cấp tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng mạnh 34%. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá ước hơn 1,03 triệu tỷ đồng, tăng 40%.

Về kế hoạch kinh doanh, với riêng ngân hàng mẹ, VPBank lên kế hoạch lợi nhuận trước thuế 34.240 tỷ đồng (tăng 30%); tổng tài sản gần 1,5 triệu tỷ đồng (tăng 27%). Dư nợ tín dụng dự kiến đạt gần 1,15 triệu tỷ đồng (tăng 35%). Đồng thời, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2,5% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại các công ty con, FE Credit đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.179 tỷ đồng (tăng 93%), VPBankS dự kiến đạt 6.453 tỷ đồng (tăng 44%) và OPES khoảng 936 tỷ đồng (tăng 47%).

Với quy mô khách hàng ngày càng mở rộng, nên tảng vốn vững mạnh, mô hình quản trị tập đoàn từng bước phát huy hiệu quả và hệ sinh thái tài chính được hoàn thiện, VPBank bước vào năm 2026 với tâm thế sẵn sàng cho giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn.

đại hội đồng cổ đông VPBank
VPBank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.

Trình bày về định hướng kinh doanh năm 2026, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nhấn mạnh, trong năm 2026 và các năm tiếp theo, ưu tiên lớn nhất của VPBank là chuẩn bị hệ thống nền tảng và hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới. Ngân hàng đã và đang đầu tư rất lớn vào các lĩnh vực cốt lõi như công nghệ, dữ liệu và hệ thống quản trị rủi ro. Đặc biệt, với sự hợp tác và hỗ trợ từ đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC).

Theo Tổng giám đốc VPBank, nếu như năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động rất nhanh, đạt hơn 35 - 36%, trong đó, huy động 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế, thì trong năm nay ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng huy động thêm 40%.

Theo đó, VPBank dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD từ các nguồn vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng. Bởi lẽ, không có vốn thì không thể tăng trưởng. Để tăng trưởng huy động tới 40%/năm, tương đương tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng, là nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với bất kỳ tổ chức nào.

"Đó là chiến lược cơ bản và nền tảng để tạo ra cho sự tăng trưởng cao. Không có funding (nguồn vốn), không có cách gì chúng ta tăng trưởng. Đấy là nguồn huy động từ cá nhân, doanh nghiệp và cũng như các nguồn quốc tế đã được chúng ta đa dạng và mở rộng sang thị trường Nhật" - ông Vinh nhấn mạnh.

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa
Nguồn: VPBank.

Theo tờ trình, ngân hàng dự kiến chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt với tỷ lệ 5%, thời gian thực hiện trong quý II hoặc quý III/2026, thời điểm cụ thể do HĐQT quyết định. Tổng số tiền chi trả ước khoảng 4.000 tỷ đồng; sau phân phối, lợi nhuận giữ lại còn 15.986 tỷ đồng.

Đồng thời, HĐQT đề xuất tăng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, tương ứng tỷ lệ 26,04%. Bên cạnh đó, VPBank dự kiến phát hành riêng lẻ hơn 624 triệu cổ phiếu cho 01 nhà đầu tư nước ngoài, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm hơn 6.243 tỷ đồng. Đối tượng nhận phát hành có thể là cổ đông chiến lược hiện hữu hoặc một tổ chức nước ngoài khác đáp ứng đủ năng lực tài chính.

Sau khi hoàn tất cả hai phương án, vốn điều lệ của VPBank dự kiến đạt 106.244 tỷ đồng, vươn lên mức cao nhất hệ thống tại thời điểm hiện tại.

Sẵn sàng vận hành sàn CAEX

Tại Đại hội đồng cổ đông, cổ đông của VPBank tập trung vào nhiều vấn đề then chốt về kế hoạch kinh doanh năm 2026 của VPBank; ngân hàng chấp nhận duy trì mức lãi suất cao để đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng tín dụng. Các câu hỏi cũng xoay quanh tỷ lệ nợ xấu cao hơn mặt bằng, triển vọng biên lãi ròng (NIM), định hướng tín dụng bất động sản và rủi ro chênh lệch thanh khoản khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Bên cạnh đó, cổ đông đặc biệt quan tâm đến kế hoạch phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, cũng như giá cổ phiếu VPB...

đại hội đồng cổ đông VPBank

Nói về dự định trong lĩnh vực tài sản mã hóa, Tổng giám đốc VPBank cho biết VPBank cũng đã hợp tác với một số đối tác nước ngoài như: OKX và Tập đoàn Haskey, để triển khai đề án thành lập các công ty vận hành sàn giao dịch tài sản mã hóa trong nước.

Lãnh đạo VPBank cho biết, ngân hàng không trực tiếp kinh doanh tài sản mã hóa, mà tập trung cung cấp dịch vụ giao dịch và lưu ký, đảm bảo tuân thủ quy định và an toàn cho thị trường.

Về vấn đề này, ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch HĐQT VPBank bổ sung thêm, đề án CAEX hiện đã được VPBank chuẩn bị tương đối sẵn sàng, trong đó, đang triển khai góp đủ 10.000 tỷ đồng vốn và tính toán phương án kiểm soát hiệu quả nguồn vốn.

Song song, trong 6 tháng qua, ngân hàng đã xây dựng hệ thống dịch vụ đồng bộ bao gồm lưu ký (custody), ngân hàng lưu ký, thanh khoản (liquidity)... Đồng thời, phối hợp với các cơ quan quản lý như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong quá trình kiểm định, đánh giá các điều kiện vận hành.

"Hy vọng rằng CAEX sẽ được đón nhận trên thị trường. VPBank hiện cùng với các công ty thành viên như: VPBankS đã tham gia trực tiếp vào hoạt động và vận hành sàn giao dịch này" - lãnh đạo VPBank nêu rõ.

Trước băn khoăn của cổ đông về tỷ lệ nợ xấu của VPBank cao hơn so với một số ngân hàng khác, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nêu rõ, đây không phải là câu hỏi mới, mà đã được đặt ra tại nhiều kỳ Đại hội cổ đông trong suốt nhiều năm qua. Việc chấp nhận mức nợ xấu cao hơn xuất phát từ đặc thù mô hình kinh doanh và cấu trúc danh mục cho vay khác biệt so với mặt bằng chung của thị trường.

VPBank cũng là ngân hàng cho vay tín chấp lớn nhất, ngân hàng cho vay tài chính tiêu dùng lớn nhất, là ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn nhất. Với đặc thù này, các phân khúc cho vay của ngân hàng có mức độ rủi ro khác biệt và không thể so sánh trực tiếp với tỷ lệ nợ xấu của nhóm doanh nghiệp lớn, vốn có khả năng tái cấu trúc tốt hơn nhiều so với doanh nghiệp nhỏ. Trong mô hình hoạt động, VPBank xác định rõ mỗi phân khúc có một mức rủi ro riêng.

Với FE Credit, sau Covid-19, công ty từng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng cao, có thời điểm lên tới khoảng trên dưới 20%, tuy nhiên, năm vừa qua đã giảm xuống còn 14,4% và mục tiêu trong thời gian tới là tiếp tục tái cấu trúc mô hình, phương thức hoạt động để đưa tỷ lệ này về ngưỡng 11 - 12%, mức được xem là chấp nhận được đối với lĩnh vực tài chính tiêu dùng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, giá vàng miếng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 900.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi về vùng 167,2 - 169,7 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

(TBTCO) - PGBank đặt mục tiêu bứt phá mạnh năm 2026 với lợi nhuận trước thuế 1.438 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi và tiếp tục theo đuổi kế hoạch nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng dự kiến đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ở mức 31% và tìm “mảnh ghép” từ lĩnh vực chứng khoán nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, tạo động lực tăng trưởng mới.
LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa công bố Báo cáo tài chính quý I/2026 ghi nhận những điểm sáng tích cực trong hoạt động kinh doanh cốt lõi với lợi nhuận trước thuế đạt 2.826 tỷ đồng. Bất chấp những thách thức chung của thị trường, LPBank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tín dụng tốt, đa dạng hóa nguồn thu hiệu quả và đặc biệt ghi dấu ấn bằng chiến lược quản trị rủi ro chủ động, an toàn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 21/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.630 - 26.670 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lùi nhẹ về 98,09 điểm nhưng vẫn duy trì nền ổn định. Tâm điểm chú ý dồn vào đàm phán Mỹ - Iran cuối tuần, yếu tố có thể định hướng xu hướng thị trường ngắn hạn, dù kỳ vọng tích cực đang chiếm ưu thế.
Giá vàng hôm nay ngày 21/4: Giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 21/4: Giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 21/4, giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,670 ▼90K 16,970 ▼90K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼90K 16,760 ▼90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼90K 16,710 ▼90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼90K 16,690 ▼90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Hà Nội - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Miền Tây - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 ▼60K 16,890 ▼60K
Trang sức 99.99 16,200 ▼60K 16,900 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 ▼6K 17,002 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 ▼6K 17,003 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,673 ▼6K 1,698 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,673 ▼6K 1,699 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,653 ▼6K 1,683 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,134 ▼594K 166,634 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,488 ▼450K 126,388 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,705 ▼408K 114,605 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,923 ▼366K 102,823 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,379 ▼350K 98,279 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,438 ▼250K 70,338 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Cập nhật: 22/04/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18305 18581 19162
CAD 18739 19017 19635
CHF 33033 33419 34068
CNY 0 3820 3913
EUR 30284 30559 31584
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15244 15834
SGD 20125 20408 20936
THB 733 796 850
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26144 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,355
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,486 30,510 31,783
JPY 161.26 161.55 170.33
GBP 35,041 35,136 36,141
AUD 18,577 18,644 19,237
CAD 18,968 19,029 19,618
CHF 33,428 33,532 34,318
SGD 20,312 20,375 21,049
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.47 17.18 18.59
THB 783.51 793.19 843.82
NZD 15,275 15,417 15,779
SEK - 2,834 2,917
DKK - 4,079 4,199
NOK - 2,784 2,865
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.33 - 7,002.05
TWD 757.38 - 912.23
SAR - 6,915.97 7,242.74
KWD - 83,818 88,667
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 30,342 30,464 31,647
GBP 34,932 35,072 36,081
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,126 33,259 34,203
JPY 161.40 162.05 169.35
AUD 18,495 18,569 19,164
SGD 20,315 20,397 20,981
THB 797 800 835
CAD 18,921 18,997 19,574
NZD 15,293 15,827
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26215 26215 26355
AUD 18484 18584 19507
CAD 18923 19023 20034
CHF 33282 33312 34890
CNY 3796.9 3821.9 3957.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30456 30486 32212
GBP 35065 35115 36873
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15347 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20285 20415 21137
THB 0 761.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17000000
SBJ 15000000 15000000 17000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,355
USD20 26,150 26,200 26,355
USD1 23,845 26,200 26,355
AUD 18,537 18,637 19,762
EUR 30,597 30,597 32,026
CAD 18,867 18,967 20,283
SGD 20,359 20,509 21,088
JPY 162.2 163.7 168.36
GBP 34,935 35,285 36,430
XAU 16,808,000 0 17,062,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/04/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80