Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
aa
Đại hội đồng cổ đông VPBank: Tổng tài sản chuẩn bị cán mốc 1 triệu tỷ đồng, GPBank sắp "hồi sinh" CAEX tiến gần cột mốc vốn 10.000 tỷ đồng, VPBankS góp thêm 1.097 tỷ đồng Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Đẩy tín dụng tăng 34%, tăng tốc huy động vốn

Chiều ngày 22/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank - mã Ck: VPB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, trong đó cập nhật nhiều nội dung đáng chú ý về cổ tức và kế hoạch kinh doanh.

Lúc 14h09, đại hội ghi nhận 453 cổ đông tham dự trực tiếp và nhận ủy quyền, đại diện cho 5,069 tỷ cổ phần, tương ứng 63,89% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2025, qua đó, trở thành ngân hàng tư nhân đầu tiên lên kế hoạch lãi trên 40.000 tỷ đồng. Về các chỉ tiêu về quy mô hoạt động, VPBank đặt mục tiêu đạt tổng tài sản dự kiến đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 29%; dư nợ cấp tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng mạnh 34%. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá ước hơn 1,03 triệu tỷ đồng, tăng 40%.

Về kế hoạch kinh doanh, với riêng ngân hàng mẹ, VPBank lên kế hoạch lợi nhuận trước thuế 34.240 tỷ đồng (tăng 30%); tổng tài sản gần 1,5 triệu tỷ đồng (tăng 27%). Dư nợ tín dụng dự kiến đạt gần 1,15 triệu tỷ đồng (tăng 35%). Đồng thời, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2,5% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại các công ty con, FE Credit đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.179 tỷ đồng (tăng 93%), VPBankS dự kiến đạt 6.453 tỷ đồng (tăng 44%) và OPES khoảng 936 tỷ đồng (tăng 47%).

Với quy mô khách hàng ngày càng mở rộng, nên tảng vốn vững mạnh, mô hình quản trị tập đoàn từng bước phát huy hiệu quả và hệ sinh thái tài chính được hoàn thiện, VPBank bước vào năm 2026 với tâm thế sẵn sàng cho giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn.

đại hội đồng cổ đông VPBank
VPBank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.

Trình bày về định hướng kinh doanh năm 2026, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nhấn mạnh, trong năm 2026 và các năm tiếp theo, ưu tiên lớn nhất của VPBank là chuẩn bị hệ thống nền tảng và hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới. Ngân hàng đã và đang đầu tư rất lớn vào các lĩnh vực cốt lõi như công nghệ, dữ liệu và hệ thống quản trị rủi ro. Đặc biệt, với sự hợp tác và hỗ trợ từ đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC).

Theo Tổng giám đốc VPBank, nếu như năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động rất nhanh, đạt hơn 35 - 36%, trong đó, huy động 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế, thì trong năm nay ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng huy động thêm 40%.

Theo đó, VPBank dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD từ các nguồn vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng. Bởi lẽ, không có vốn thì không thể tăng trưởng. Để tăng trưởng huy động tới 40%/năm, tương đương tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng, là nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với bất kỳ tổ chức nào.

"Đó là chiến lược cơ bản và nền tảng để tạo ra cho sự tăng trưởng cao. Không có funding (nguồn vốn), không có cách gì chúng ta tăng trưởng. Đấy là nguồn huy động từ cá nhân, doanh nghiệp và cũng như các nguồn quốc tế đã được chúng ta đa dạng và mở rộng sang thị trường Nhật" - ông Vinh nhấn mạnh.

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa
Nguồn: VPBank.

Theo tờ trình, ngân hàng dự kiến chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt với tỷ lệ 5%, thời gian thực hiện trong quý II hoặc quý III/2026, thời điểm cụ thể do HĐQT quyết định. Tổng số tiền chi trả ước khoảng 4.000 tỷ đồng; sau phân phối, lợi nhuận giữ lại còn 15.986 tỷ đồng.

Đồng thời, HĐQT đề xuất tăng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, tương ứng tỷ lệ 26,04%. Bên cạnh đó, VPBank dự kiến phát hành riêng lẻ hơn 624 triệu cổ phiếu cho 01 nhà đầu tư nước ngoài, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm hơn 6.243 tỷ đồng. Đối tượng nhận phát hành có thể là cổ đông chiến lược hiện hữu hoặc một tổ chức nước ngoài khác đáp ứng đủ năng lực tài chính.

Sau khi hoàn tất cả hai phương án, vốn điều lệ của VPBank dự kiến đạt 106.244 tỷ đồng, vươn lên mức cao nhất hệ thống tại thời điểm hiện tại.

Sẵn sàng vận hành sàn CAEX

Tại Đại hội đồng cổ đông, cổ đông của VPBank tập trung vào nhiều vấn đề then chốt về kế hoạch kinh doanh năm 2026 của VPBank; ngân hàng chấp nhận duy trì mức lãi suất cao để đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng tín dụng. Các câu hỏi cũng xoay quanh tỷ lệ nợ xấu cao hơn mặt bằng, triển vọng biên lãi ròng (NIM), định hướng tín dụng bất động sản và rủi ro chênh lệch thanh khoản khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Bên cạnh đó, cổ đông đặc biệt quan tâm đến kế hoạch phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, cũng như giá cổ phiếu VPB...

đại hội đồng cổ đông VPBank

Nói về dự định trong lĩnh vực tài sản mã hóa, Tổng giám đốc VPBank cho biết VPBank cũng đã hợp tác với một số đối tác nước ngoài như: OKX và Tập đoàn Haskey, để triển khai đề án thành lập các công ty vận hành sàn giao dịch tài sản mã hóa trong nước.

Lãnh đạo VPBank cho biết, ngân hàng không trực tiếp kinh doanh tài sản mã hóa, mà tập trung cung cấp dịch vụ giao dịch và lưu ký, đảm bảo tuân thủ quy định và an toàn cho thị trường.

Về vấn đề này, ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch HĐQT VPBank bổ sung thêm, đề án CAEX hiện đã được VPBank chuẩn bị tương đối sẵn sàng, trong đó, đang triển khai góp đủ 10.000 tỷ đồng vốn và tính toán phương án kiểm soát hiệu quả nguồn vốn.

Song song, trong 6 tháng qua, ngân hàng đã xây dựng hệ thống dịch vụ đồng bộ bao gồm lưu ký (custody), ngân hàng lưu ký, thanh khoản (liquidity)... Đồng thời, phối hợp với các cơ quan quản lý như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong quá trình kiểm định, đánh giá các điều kiện vận hành.

"Hy vọng rằng CAEX sẽ được đón nhận trên thị trường. VPBank hiện cùng với các công ty thành viên như: VPBankS đã tham gia trực tiếp vào hoạt động và vận hành sàn giao dịch này" - lãnh đạo VPBank nêu rõ.

Trước băn khoăn của cổ đông về tỷ lệ nợ xấu của VPBank cao hơn so với một số ngân hàng khác, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nêu rõ, đây không phải là câu hỏi mới, mà đã được đặt ra tại nhiều kỳ Đại hội cổ đông trong suốt nhiều năm qua. Việc chấp nhận mức nợ xấu cao hơn xuất phát từ đặc thù mô hình kinh doanh và cấu trúc danh mục cho vay khác biệt so với mặt bằng chung của thị trường.

VPBank cũng là ngân hàng cho vay tín chấp lớn nhất, ngân hàng cho vay tài chính tiêu dùng lớn nhất, là ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn nhất. Với đặc thù này, các phân khúc cho vay của ngân hàng có mức độ rủi ro khác biệt và không thể so sánh trực tiếp với tỷ lệ nợ xấu của nhóm doanh nghiệp lớn, vốn có khả năng tái cấu trúc tốt hơn nhiều so với doanh nghiệp nhỏ. Trong mô hình hoạt động, VPBank xác định rõ mỗi phân khúc có một mức rủi ro riêng.

Với FE Credit, sau Covid-19, công ty từng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng cao, có thời điểm lên tới khoảng trên dưới 20%, tuy nhiên, năm vừa qua đã giảm xuống còn 14,4% và mục tiêu trong thời gian tới là tiếp tục tái cấu trúc mô hình, phương thức hoạt động để đưa tỷ lệ này về ngưỡng 11 - 12%, mức được xem là chấp nhận được đối với lĩnh vực tài chính tiêu dùng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80