Đấu thầu vàng: Lợi và hại?

Hoàng Yến
Hoạt động đấu thầu vàng vẫn được duy trì đều đặn với mức 2 – 3 tấn/tuần. Bán vàng ra thị trường nhiều như vậy lợi hay hại và liệu có giải pháp nào hợp lý để thay thế cho việc NHNN đứng ra bán vàng hay không ?
aa

Gold

Có những rủi ro cơ bản về chênh lệch tỷ giá khi nhập khẩu lượng vàng lớn bán ra thị trường. Ảnh minh họa: Forex-holder

Kể từ sau thời điểm các ngân hàng phải tất toán trạng thái vàng đến nay (7/8), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bán ra hơn 15 tấn vàng, lớn hơn nhiều so với con số 9 tấn vàng dư nợ cho vay chưa đến hạn tính đến ngày 30/6 tại các ngân hàng.

Vì sao?

Hãy bắt đầu từ những lý do đầu tiên của việc đấu thầu vàng. Là đơn vị độc quyền nhập khẩu vàng, NHNN đương nhiên phải đảm bảo nguồn cung cho thị trường. Trước đây, thời điểm lãi suất cho vay tiền VND tăng cao, có thời điểm lên đến trên 20%, trong khi lãi suất huy động bằng vàng chỉ 2 – 3%, các ngân hàng đã bán khống một lượng vàng rất lớn để cho vay VNĐ.

Giờ đây, họ buộc phải mua vàng để tất toán trạng thái cho vay và huy động theo yêu cầu của NHNN. Nếu NHNN không đứng ra đáp ứng nhu cầu này, một sự đổ vỡ do mất khả năng thanh toán về vàng của các ngân hàng là không tránh khỏi.

Tuy nhiên, nếu đúng như số liệu đã được công bố, các ngân hàng đã có thừa vàng để bù đắp trạng thái, nhiệm vụ của NHNN đã xong thì hoạt động đấu thầu vàng đã có thể chấm dứt, trả lại giá vàng trong nước về cho thị trường định đoạt.

Lợi và hại

Trên thực tế, có thể nhìn thấy những “lợi ích” từ việc đấu thầu vàng. Theo NHNN, việc tiếp tục duy trì mức chênh lệch giá vàng cao và việc can thiệp bằng hình thức đấu giá giữ cho giá vàng trong nước và thị trường vàng ổn định, làm mất động lực đầu cơ, góp phần kiềm chế “vàng hóa” nền kinh tế.

Bên cạnh đó, việc NHNN độc quyền nhập khẩu và cung ứng cho phép tạo ra một “nguồn thu” đáng kể. Thử làm phép tính đơn giản trên số hơn 50 tấn vàng đã bán ra tương đương khoảng 50 ngàn tỷ đồng, phần chênh lệch giá 12% sẽ mang về cho ngân sách khoảng 6.000 tỷ đồng.

Có thể đó cũng là một cách hợp lý để tạo nguồn thu trong bối cảnh khó khăn hiện nay.

Tuy nhiên, những mặt trái của việc đấu thầu vàng cũng không ít.

NHNN có nhiệm vụ là quản lý thị trường vàng chứ không phải "nhà buôn vàng" để tạo nguồn thu. Trong thời gian vừa qua, một lượng lớn dự trữ ngoại hối đã được rút ra để cung ứng vàng cho thị trường, (theo tính toán sơ bộ, để nhập khẩu 52 tấn vàng đã bán, NHNN phải chi ra khoảng 2,2 – 2,4 tỷ USD, tương đương 10% dự trữ ngoại hối). Cùng với đó, NHNN phải đối diện với những rủi ro cơ bản như chênh lệch giá vàng thời điểm nhập và thời điểm đấu thầu, chênh lệch tỷ giá khi bán vàng thu tiền đồng và sau đó phải quy đổi ra đô la Mỹ.

Một lý do của việc NHNN đứng ra cung ứng vàng là do lo sợ nạn nhập lậu vàng gây bất ổn tỷ giá. Tuy nhiên với mức chênh lệch giá cao như hiện nay, một kg vàng nhập lậu có thể thu lãi hơn 100 triệu đồng và vì thế khó tin rằng vàng nhập lậu giảm đi.

Trên thị trường, ngoài các ngân hàng thì các doanh nghiệp cũng tham gia mua vàng của NHNN. Tuy nhiên, các quy định với doanh nghiệp kinh doanh vàng không chặt chẽ như với các tổ chức tín dụng, vì thế khó biết doanh nghiệp thực mua bao nhiêu, nguồn tiền ra sao.

Nếu không ngăn chặn được việc các "tay chơi lớn" thao túng giá, một rủi ro nữa là tỷ giá cũng sẽ chịu áp lực, khi NHNN phải tiếp tục chạy đua đáp ứng nhu cầu nhập khẩu vàng.

Đấu thầu giấy phép NK thay vì đấu thầu vàng?

Theo ý kiến của một chuyên gia từ nước ngoài, một giải pháp tạm thời cho việc nhập khẩu vàng là NHNN nên cho đấu thầu giấy phép nhập khẩu.

Tất nhiên, NHNN vẫn là đơn vị trực tiếp nhận uỷ thác nhập khẩu và dập miếng. Chẳng hạn, mức chênh lệch giá hiện tại là 4 triệu đồng, số đó sẽ là tham chiếu cho mức giá đấu thầu giấy phép nhập khẩu cho 1 lượng vàng quy đổi.

Khi đó, NHNN đã chuyển giao toàn bộ rủi ro cho bên mua, cả về giá vàng và nguồn ngoại tệ. NHNN vẫn thu được một nguồn “chênh lệch hợp lý”, còn các đơn vị tham gia đấu thầu giấy phép sẽ phải thận trọng và minh bạch hơn.

Ngoài ra, việc NHNN cho đấu thầu “giấy phép” sẽ dễ dàng và thuận tiện cho họ hơn nhiều so với đấu thầu vàng miếng. Điều đó được kỳ vọng sẽ giúp giảm bớt tình trạng đầu cơ./.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu năm 2026 đạt doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng, tái cấu trúc danh mục nghiệp vụ theo hướng giảm dần phụ thuộc vào xe cơ giới. Doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh phân phối, hợp tác với các đối tác chiến lược, phát triển bảo hiểm số, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.
Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
MBV thông báo về việc khai trương đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An

MBV thông báo về việc khai trương đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc chính thức khai trương và đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲270K 17,560 ▲310K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲270K 17,550 ▲310K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,930 ▲310K 17,330 ▲310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,880 ▲310K 17,280 ▲310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,810 ▲310K 17,260 ▲310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
NL 99.90 15,570 ▲70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▲70K
Trang sức 99.9 16,690 ▲300K 17,390 ▲300K
Trang sức 99.99 16,700 ▲300K 17,400 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲20K 17,552 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲20K 17,553 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 171 ▲2K 175 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 171 ▲2K 1,751 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 169 ▲2K 1,735 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,282 ▲2970K 171,782 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,388 ▲2250K 130,288 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,242 ▲2040K 118,142 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,096 ▲1831K 105,996 ▲1831K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,411 ▲1750K 101,311 ▲1750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,607 ▲1251K 72,507 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cập nhật: 08/04/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18071 18345 18918
CAD 18494 18771 19388
CHF 32685 33069 33721
CNY 0 3800 3870
EUR 30108 30381 31407
GBP 34523 34914 35841
HKD 0 3230 3432
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15047 15635
SGD 20112 20395 20923
THB 736 799 853
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,289 30,313 31,569
JPY 162.16 162.45 171.22
GBP 34,733 34,827 35,817
AUD 18,265 18,331 18,907
CAD 18,722 18,782 19,351
CHF 32,997 33,100 33,871
SGD 20,272 20,335 21,009
CNY - 3,791 3,912
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 784.92 794.61 845.79
NZD 15,027 15,167 15,522
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,054 4,171
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,180.73 - 6,934.66
TWD 750.22 - 903.26
SAR - 6,912.47 7,236.31
KWD - 83,726 88,536
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26361
AUD 18194 18294 19219
CAD 18668 18768 19785
CHF 32900 32930 34516
CNY 3792.9 3817.9 3954
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30267 30297 32022
GBP 34759 34809 36569
HKD 0 3355 0
JPY 162.69 163.19 173.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20260 20390 21111
THB 0 764.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17320000 17320000 17620000
SBJ 16000000 16000000 17620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,361
USD20 26,159 26,209 26,361
USD1 26,159 26,209 26,361
AUD 18,267 18,367 19,479
EUR 30,434 30,434 31,842
CAD 18,624 18,724 20,029
SGD 20,331 20,481 21,048
JPY 163.06 164.56 169.1
GBP 34,673 35,023 36,150
XAU 17,398,000 0 17,702,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80