Tín hiệu sáng từ thương mại quốc tế

Năm 2025 ghi nhận sự phục hồi và bứt phá kỷ lục của hoạt đông xuất nhập khẩu bất chấp “cơn gió ngược” từ chính sách thuế quan của Mỹ hồi đầu năm. Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 475 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước; trong khi kim ngạch nhập khẩu đạt 455 tỷ USD, tăng 19,4%. Ngoại trừ tháng 1 chịu tác động của yếu tố mùa vụ do chênh lệch thời điểm Tết Âm lịch giữa hai năm, kim ngạch xuất nhập khẩu trong các tháng còn lại đều duy trì mức tăng trưởng trên 15% so với cùng kỳ. Riêng với hoạt động xuất khẩu, mức tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu trong 10 năm qua chỉ thấp hơn năm 2017 và năm 2021, cho thấy xuất khẩu đã thoát khỏi giai đoạn tăng trưởng chậm và lấy lại đà mở rộng.

Doanh nghiệp cảng biển trước cú hích hạ tầng giao thông
Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh

Trong cơ cấu vận chuyển, đường biển tiếp tục giữ vai trò chủ đạo khi chiếm khoảng 60% khối lượng hàng hóa xuất khẩu và 54% hàng hóa nhập khẩu. Tăng trưởng thương mại tác động tích cực đến tăng trưởng sản lượng thông qua các cảng biển và cảng thủy nội địa. Cụ thể, theo số liệu từ Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, tổng khối lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển và cảng thủy nội địa năm 2025 ước đạt khoảng 1,17 tỷ tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, hàng hóa container thông qua cảng đạt khoảng 34,36 triệu TEU, tăng 11% so với năm trước. Với mức tăng trưởng hai con số này, đà mở rộng sản lượng khai thác của ngành cảng biển không chỉ mang tính ngắn hạn mà phản ánh xu hướng phục hồi bền vững hơn của thương mại và chuỗi cung ứng.

Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - chuyên gia phân tích của Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), triển vọng ngành logistics và cảng biển tiếp tục được hỗ trợ bởi kỳ vọng thương mại và du lịch quốc tế duy trì đà phục hồi trong giai đoạn tới. Thương mại Việt Nam năm 2026 được dự báo sẽ giữ được xu hướng tăng trưởng bền vững như giai đoạn trước, khi CAGR kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2015 - 2024 đạt khoảng 10%.

Điều này có được nhờ triển vọng tích cực trong ngắn hạn được củng cố khi PMI sản xuất duy trì trên 50 điểm từ tháng 7 đến nay phản ánh sự cải thiện của đơn hàng mới, định hướng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức hai chữ số của Chính phủ được kỳ vọng sẽ tạo thêm lực đẩy cho thương mại hàng hóa và nhu cầu vận tải. Cùng với đó, các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, cùng với xu hướng dịch chuyển chuỗi sản xuất ra khỏi Trung Quốc, tiếp tục củng cố vai trò của Việt Nam trong mạng lưới thương mại toàn cầu.

Cơ hội và thách thức từ thương mại quốc tế

Năm 2026, rủi ro thương mại đối với Việt Nam gia tăng khi Mỹ điều chỉnh chính sách thuế theo hướng chọn lọc, siết chặt quy tắc xuất xứ và hàng trung chuyển. Các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, thủy sản, đồ gỗ đối mặt áp lực biên lợi nhuận. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Minh Tuấn - CEO AFA Capital, trong thách thức vẫn tồn tại cơ hội. Xu hướng “Trung Quốc +1” tiếp tục thúc đẩy các tập đoàn đa quốc gia tái cấu trúc chuỗi cung ứng, qua đó tạo dư địa để Việt Nam thu hút thêm FDI, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất, công nghệ và hạ tầng.

Trong bối cảnh đó, bà Ngọc Anh cho rằng ngành cảng biển được đánh giá là nhóm hưởng lợi trực tiếp, khi tăng trưởng thương mại không chỉ kéo theo tăng sản lượng mà còn nâng cao vị thế của các cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn và tuyến dịch vụ xuyên lục địa.

Ngoài ra, một yếu tố đáng chú ý khác trong năm 2026 là xu hướng điều chỉnh tăng giá dịch vụ xếp dỡ tại một số khu vực cảng nước sâu trọng điểm. Theo Quyết định 2056/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng, kể từ ngày 1/2/2026, giá dịch vụ bốc dỡ tại bến cảng Lạch Huyện và khu vực Cái Mép - Thị Vải sẽ tăng khoảng 10%. Đây là lần điều chỉnh thứ hai, sau lần tăng trước đó theo Quyết định 810/QĐ-BGTVT.

Dù vậy, theo chuyên gia từ Chứng khoán VIX, mặt bằng giá xếp dỡ tại các cảng nước sâu của Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể so với nhiều cảng trong khu vực Đông Nam Á. Điều chỉnh tăng giá dịch vụ sẽ giúp các doanh nghiệp cảng vừa cải thiện biên lợi nhuận, vừa duy trì được lợi thế cạnh tranh về chi phí, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý và mạng lưới FTA rộng khắp.

Cú hích hạ tầng giao thông

Bước sang năm 2026, dù thời điểm này chưa nhiều doanh nghiệp công bố kế hoạch kinh doanh, bản kế hoạch mới đây của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng cho thấy bức tranh khá tích cực. “Ông lớn” ngành cảng biển miền Bắc đặt mục tiêu hợp nhất năm 2026 đạt sản lượng 57,3 triệu tấn, doanh thu gần 3.500 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế khoảng 1.520 tỷ đồng, đều tăng trưởng hai chữ số so với năm trước.

Năm 2025, doanh nghiệp này đã đạt sản lượng 43,8 triệu tấn, doanh thu gần 2.960 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế gần 1.290 tỷ đồng, tương ứng mức tăng lần lượt 14% và 7,5%. Kết quả này tạo nền tảng để Cảng Hải Phòng tiếp tục đặt kỳ vọng cao hơn trong năm kế tiếp, đặc biệt khi các dự án mới bắt đầu phát huy hiệu quả.

Một trong những động lực quan trọng của Cảng Hải Phòng trong giai đoạn tới đến từ HTIT, doanh nghiệp liên doanh giữa Cảng Hải Phòng và Terminal Investment Limited (TIL), đơn vị khai thác cảng thuộc hãng tàu container MSC. Sau thời gian vận hành thử, dự án đã chính thức đưa vào khai thác vào năm 2025 tại khu bến cảng nước sâu Lạch Huyện, đánh dấu bước phát triển mới của hệ thống cảng miền Bắc.

Ngay trong năm đầu vận hành, HTIT đã ghi nhận kết quả tương đối tích cực với sản lượng khai thác khoảng 252.000 TEU, doanh thu đạt 580 tỷ đồng và lợi nhuận khoảng 45 tỷ đồng. Sang năm 2026, đơn vị đặt mục tiêu đạt sản lượng 700.000 TEU và doanh thu khoảng 1.500 tỷ đồng, gấp 2,58 lần năm trước.

Không chỉ Cảng Hải Phòng, Gemadept (mã GMD), một doanh nghiệp lớn khác của ngành, cũng đang đẩy mạnh mở rộng công suất. Dự án Nam Đình Vũ giai đoạn 3 với công suất 800.000 TEU vừa đưa vào khai thác cuối năm 2025, sớm hơn kế hoạch ban đầu là năm 2026. Khi đi vào vận hành toàn diện, giai đoạn này giúp nâng tổng công suất cảng Nam Đình Vũ lên hơn 2 triệu TEU, tăng khoảng 60% so với trước, đáp ứng tốt nhu cầu của các tuyến Intra-Asia và tàu trọng tải lên đến 50.000 DWT.

Không riêng với hệ thống cảng biển, bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam xác định phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại là một trong ba đột phá chiến lược nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng. Mục tiêu là hoàn thiện khoảng 5.000 km cao tốc, đẩy nhanh tiến độ sân bay quốc tế Long Thành và đặc biệt là khởi động tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam cùng các tuyến vành đai, trục liên vùng... được kỳ vọng sẽ tái định hình mạng lưới logistics. Ngành cảng biển được mở đường đẩy mạnh phát triển về cơ sở hạ tầng, đón đầu cơ hội, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu trong giai đoạn mới. Cùng với dự án của các doanh nghiệp niêm yết, một số dự án lớn trọng điểm quốc gia đã lần lượt được phê duyệt chủ trương đầu tư như siêu cảng trung chuyển Cần Giờ với đối tác MSC và dự án cảng nước sâu Nam Đồ Sơn tại Hải Phòng do Tập đoàn Vingroup đề xuất thông qua công ty thành viên.