Năm 2020 - 2021: Ngành Ngân hàng vẫn “nặng gánh” nợ xấu

Diệu Thiện (thực hiện)
(TBTCVN) - Một trong những mối lo lớn của ngành Ngân hàng trong năm 2020 và cả năm 2021 là sự phình to của khối nợ xấu, đặc biệt là khối nợ xấu tiềm ẩn đang được “che đậy lại” dưới “lớp vỏ” cơ cấu lại nợ. Bởi vậy, trước mắt các ngân hàng cần đặt vấn đề kiểm soát rủi ro nợ xấu lên hàng đầu.
aa

Mức tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 10/2020 khoảng 6,15%.

Mức tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 10/2020 khoảng 6,15%.

Đây là chia sẻ của PGS.TS Đỗ Hoài Linh – Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân với phóng viên TBTCVN.

* PV: Tính đến cuối tháng 10, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng (NH) vẫn ở mức khá thấp, khoảng 6,15%. Theo bà, có nên ép tăng trưởng tín dụng trong những tháng cuối năm?

- Bà Đỗ Hoài Linh: Nhìn nhận khách quan có thể thấy, mức tăng trưởng tín dụng 6,15% hiện tại là rất đáng ghi nhận, vì con số này 6 tháng đầu năm 2020 chỉ đạt mức 3,65%, trong đó tín dụng cho các ngành ưu tiên như xuất khẩu, nông nghiệp, doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ đều ghi nhận mức tăng đáng khích lệ.

Bà Đỗ Hoài Linh

Bà Đỗ Hoài Linh

Theo tôi, việc ép tăng trưởng tín dụng trên thực tế là bất khả thi, vì tăng trưởng tín dụng chỉ có được khi có sự vận hành hài hòa của cả cung - cầu tín dụng. Hiện nay, mặc dù mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khá mạnh, nhưng nhu cầu tín dụng giảm vẫn đang là khó khăn không nhỏ đối với ngành NH trong những tháng cuối năm 2020.

Theo tôi, từ giờ đến hết năm 2020, nếu Việt Nam không xảy ra sự bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 3, đà phục hồi hiện tại vẫn được giữ vững, thì có thể đạt được mức tăng trưởng tín dụng cả năm là 10%.

* PV: Nhiều ý kiến cho rằng khả năng ngành NH không hoàn thành mục tiêu đưa tổng nợ xấu về dưới 3% vào cuối năm 2020. Quan điểm của bà về nhận định trên như thế nào? Theo bà, Ngân hàng Nhà nước có nên nới trần tỷ lệ nợ xấu cho các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2020 và cả năm 2021 không?

- Bà Đỗ Hoài Linh: Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành NH trong năm 2020 có đặt ra mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 2%; tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD, nợ xấu đã bán cho Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3%. Theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 8/2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD được kiểm soát ở mức dưới 2%. Tuy nhiên, con số này chỉ phản ánh phần nào tình hình thực tế, bởi theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN, các NH được phép cơ cấu lại nợ, giãn thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ của khách hàng, do đó, nợ xấu thực tế sẽ cao hơn con số báo cáo. Ngoài ra, theo báo cáo tài chính của nhiều NH công bố trong quý III/2020 cho thấy tỷ lệ nợ xấu tăng đáng kể so với trước đó. Khảo sát của tôi từ 14 NH niêm yết công bố kết quả kinh doanh quý III cho thấy, tỷ lệ nợ xấu quý III tăng trung bình 30% so với quý II/2020.

Về ý kiến Ngân hàng Nhà nước có nên nới trần tỷ lệ nợ xấu cho các TCTD năm 2020 và cả năm 2021, theo tôi là không. Bởi, tỷ lệ nợ xấu đã đặt ra sẽ vừa là chỉ tiêu để giúp đánh giá hiện trạng nợ xấu các NH, đồng thời cũng là mục tiêu để các TCTD hướng đến, đặc biệt trong việc xây dựng chính sách tín dụng, nắn dòng vốn không được chảy vào những lĩnh vực dễ xảy ra bong bóng như chứng khoán, bất động sản… và thực hiện quy trình tín dụng một cách nghiêm túc để bảo đảm nợ xấu trong ngưỡng cho phép.

* PV: Bà dự báo như thế nào về “bức tranh” ngành NH cả năm 2020 cũng như bước sang năm 2021?

- Bà Đỗ Hoài Linh: Đến thời điểm này, “bức tranh” ngành NH cả năm 2020 và nửa đầu năm 2021 đã bộc lộ khá rõ nét. Theo đó tôi cho rằng, về cơ bản hoạt động ngành NH sẽ tiếp tục duy trì xu hướng như hiện nay. Cụ thể, thanh khoản toàn thị trường dồi dào, lãi suất tiếp tục duy trì mức thấp và còn có xu hướng giảm tiếp sang năm 2021, tăng trưởng tín dụng dù không cao như những năm trước nhưng vẫn là lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế. Nguy cơ nợ xấu tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hệ thống NH gia tăng, nhưng nguồn gốc của các khoản nợ tiềm ẩn này phần lớn đến từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nên sẽ dễ dàng phục hồi hơn là nợ xấu đến từ những lĩnh vực tạo bong bóng như những giai đoạn trước. Lợi nhuận thực tế của các NH sẽ có xu hướng giảm, dù số liệu lợi nhuận trên sổ sách của các NH có thể tăng. Ngoài ra, tiến trình số hóa NH sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn ngay cả khi dịch Covid-19 được khống chế...

Trong bối cảnh đó, theo tôi, các NH ngoài việc nỗ lực đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn, thì về dài hạn cần điều chỉnh danh mục cho vay, thậm chí hướng tới điều chỉnh danh mục tài sản tiến tới giảm tỷ trọng tài sản tín dụng, tăng tài sản phi tín dụng. Đồng thời, luôn phải đặt nhiệm vụ xử lý nợ xấu là trọng tâm, đặc biệt là việc xây dựng các giải pháp riêng biệt cho từng nhóm khách hàng và đẩy mạnh bán nợ. Cùng với đó, các NH cần đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi số, đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống dữ liệu lớn (big data), nhanh chóng đưa vào sử dụng và hoàn thiện các sản phẩm NH số, các giao dịch NH điện tử…

* PV: Xin cảm ơn bà!

Ép tăng trưởng tín dụng là bất khả thi

Theo số liệu trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (DN), 10 tháng năm 2020, cả nước có 111.160 DN thành lập mới, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2019; có 85.541 DN rút lui khỏi thị trường, tăng 58,7% với cùng kỳ năm 2019. Số lượng DN tạm ngừng kinh doanh tăng cao cho thấy, nhu cầu hấp thụ tín dụng còn yếu trong bối cảnh chồng chất những khó khăn đến từ tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp, kinh tế toàn cầu suy giảm, đặc biệt làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 3 đang đe dọa toàn cầu. Mặt khác, tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn ở mức thấp, thu nhập của người dân giảm sút do tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tăng… Do đó, việc ép tăng trưởng tín dụng là bất khả thi.

Diệu Thiện (thực hiện)

Diệu Thiện (thực hiện)

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 146,600
Hà Nội - PNJ 143,600 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,600 146,600
Miền Tây - PNJ 143,600 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,600 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 22/09/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18010 18284 18863
CAD 18027 18302 18920
CHF 30987 31365 32012
CNY 0 3842 3939
EUR 29231 29451 30532
GBP 34006 34396 35331
HKD 0 3185 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14580 15167
SGD 19853 20135 20707
THB 697 760 813
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18184 18284 19214
CAD 18201 18301 19315
CHF 31202 31232 32806
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29404 29434 31159
GBP 34304 34354 36112
HKD 0 3305 0
JPY 161.88 162.38 172.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14692 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20006 20136 20868
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Cập nhật: 22/09/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30