Ngân sách nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hàng triệu học sinh, sinh viên

Vũ Luyện
(TBTCO) - Với mức hỗ trợ ngày càng tăng, quyền lợi ngày càng thiết thực, bảo hiểm y tế đang giúp hàng triệu học sinh, sinh viên được chăm sóc sức khỏe toàn diện, giảm gánh nặng tài chính cho gia đình.
aa

Nhiều học sinh, sinh viên được chi trả chi phí y tế lớn

Công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh, sinh viên (HSSV) thông qua chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và Quỹ BHYT đã trở thành “cứu cánh” cho hàng triệu gia đình. Khi tham gia BHYT, HSSV được chi trả 80 - 100% chi phí khám chữa bệnh đúng tuyến. Trong tình huống cấp cứu hoặc khám trái tuyến, quyền lợi vẫn được đảm bảo ở mức 40 - 80%, tùy theo hạng bệnh viện. Đây là “tấm đệm” tài chính an toàn, giúp gia đình học sinh an tâm hơn trước mọi rủi ro sức khỏe.

Bên cạnh đó, BHYT cho phép HSSV tiếp cận hệ thống bệnh viện từ tuyến xã, huyện đến trung ương. Đặc biệt, nhờ cơ chế thông tuyến, các em có thể khám chữa bệnh ở bất kỳ cơ sở y tế nào thuận tiện mà vẫn được hưởng quyền lợi theo quy định. Điều này mở ra cơ hội tiếp cận kỹ thuật y học hiện đại, đảm bảo điều trị kịp thời và chất lượng.

Ngân sách nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hàng triệu học sinh, sinh viên

Học sinh Trường Tiểu học Phương Mai (Hà Nội) trong lễ khai giảng năm học mới 2025 - 2026. Ảnh: VŨ LUYỆN

Không chỉ bảo vệ sức khoẻ trước mắt, khi tham gia BHYT còn giúp HSSV tạo thói quen khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm bệnh học đường như cong vẹo cột sống, cận thị, béo phì… Đồng thời, chính sách này nuôi dưỡng tinh thần sẻ chia mình vì mọi người, mọi người vì mình, góp phần giáo dục thế hệ trẻ ý thức cộng đồng, sống nhân ái và trách nhiệm hơn.

Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy, trong 7 tháng của năm 2025, cả nước có trên 4,3 triệu lượt HSSV đi khám chữa bệnh BHYT với số tiền được Quỹ BHYT chi trả gần 1.770 tỷ đồng. Trong đó, rất nhiều trường hợp HSSV đi khám chữa bệnh đã được Quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị lớn cho những căn bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo chi phí điều trị lên tới hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng/ca. Đặc biệt, 7 tháng năm 2025, có 20 em HSSV được Quỹ BHYT chi trả chi phí khám chữa bệnh từ 200 triệu đến 1 tỷ đồng.

Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên đạt 98,4%

Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm học 2024 - 2025, cả nước có hơn 20,8 triệu học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế, đạt tỷ lệ 98,4%. So với năm học 2023 - 2024, tỷ lệ bao phủ đã tăng gần 1%. Điển hình có một số tỉnh, thành phố đã đạt tỷ lệ 100% bao phủ với nhóm học sinh, sinh viên, bao gồm: Hưng Yên, Ninh Bình, Đà Nẵng, Đồng Nai…

Một số trường hợp HSSV được quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị lớn có thể kể đến như: Trường hợp bệnh nhân có mã thẻ HS40101299XXXXX (Hà Nội) không may mắc căn bệnh bạch cầu dạng nguyên bào, một số bệnh võng mạc, viêm phổi và tổn thương cơ thể được quỹ BHYT chi trả hơn 967 triệu đồng. Bệnh nhân mã thẻ HS47979326XXXXX (TP. Hồ Chí Minh) bị nhiễm trùng đường hô hấp, bạch cầu tủy được quỹ BHYT chi trả hơn 473 triệu đồng. Bệnh nhân mã thẻ HS43636202XXXXX (tỉnh Nam Định - tên trước sáp nhập) bị bệnh U lympho, hội chứng động kinh và bệnh bạch cầu tủy được quỹ BHYT chi trả hơn 452 triệu đồng;... Nhiều trường hợp các em học sinh trên cả nước không may mắc các bệnh nặng như: nhiễm trùng huyết, suy tim, suy hô hấp... với mức chi phí khám chữa bệnh cao đều đã được Quỹ BHYT chi trả trong quá trình điều trị. Nếu không có BHYT, những khoản chi khổng lồ ấy có thể đẩy nhiều gia đình vào hoàn cảnh khốn khó, học sinh buộc phải nghỉ học giữa chừng.

Mức đóng giảm so với năm học trước

Theo Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Nguyễn Đức Hòa, Luật BHYT năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 và Nghị định 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT đã bổ sung nhiều nội dung quan trọng, nhằm mở rộng quyền lợi, tăng mức hỗ trợ và đơn giản hóa thủ tục cho người tham gia BHYT, trong đó có nhóm HSSV.

Một điểm nổi bật là quy định nâng mức hỗ trợ đóng BHYT tối thiểu từ ngân sách nhà nước cho HSSV từ 30% lên 50%, áp dụng đồng bộ trên toàn quốc từ ngày 1/7/2025. Theo đó, sau khi được ngân sách nhà nước hỗ trợ, số tiền HSSV đóng BHYT là 631.800 đồng/năm, giảm 252.720 đồng/năm so với trước đây.

Đây là mức đóng hợp lý, góp phần giảm đáng kể gánh nặng tài chính cho các gia đình, nhất là những hộ có hoàn cảnh khó khăn hoặc đông con, đồng thời bảo đảm mọi HSSV đều có cơ hội tham gia BHYT và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe công bằng. Thống kê của BHXH Việt Nam cho thấy, cả nước có khoảng 20,5 triệu HSSV thuộc diện tham gia BHYT (chưa bao gồm con bộ đội, công an được cấp thẻ BHYT miễn phí). Điều này đồng nghĩa, ngay trong năm học mới, khoảng 20,5 triệu HSSV trên cả nước sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ một nửa mức đóng BHYT.

Bên cạnh chính sách hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng BHYT của Nhà nước cho HSSV, nhiều địa phương còn chủ động trích ngân sách hoặc huy động nguồn lực xã hội hóa để giảm bớt gánh nặng cho phụ huynh, tạo điều kiện để mọi HSSV đều có thể tham gia BHYT. Đơn cử như: Cà Mau lên tới 70% cho các trường hợp đặc thù…

“Chính sách là bước tiến lớn quan trọng, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo sức khỏe thế hệ trẻ, bảo đảm “không để HSSV nào bị bỏ lại phía sau” trên hành trình thực hiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân, góp phần tăng tỷ lệ bao phủ BHYT trong nhóm dân số trẻ”- ông Nguyễn Đức Hòa nhấn mạnh.

Chia sẻ thêm về ý nghĩa của việc tăng mức hỗ trợ đóng BHYT cho HSSV, ông Nguyễn Đức Hòa cho biết, việc tăng hỗ trợ mức đóng BHYT tối thiểu 50% từ ngân sách trung ương cho HSSV không chỉ mang lại lợi ích kinh tế trước mắt cho gia đình các em, mà còn tạo ra nhiều giá trị bền vững.

Theo đó, điều này góp phần sớm hoàn thành mục tiêu 100% HSSV tham gia BHYT, để mọi HSSV được đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe, giúp các em yên tâm học tập, rèn luyện thể chất mà không phải lo gánh nặng chi phí y tế khi chẳng may ốm đau, bệnh tật. Đồng thời, góp phần nâng cao tính bền vững của Quỹ BHYT, tính chia sẻ giữa thế hệ trẻ với người cao tuổi.

Theo lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đây cũng là một khoản đầu tư trực tiếp cho tương lai của đất nước. Bởi một thế hệ trẻ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần chính là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Linh hoạt phương thức đóng bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, phương thức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) của nhóm đối tượng học sinh, sinh viên (HSSV) rất linh hoạt, được lựa chọn phương thức đóng theo định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng/lần đóng. Số tiền tham gia BHYT của HSSV (sau khi đã trừ phần hỗ trợ giảm 50% mức đóng từ ngân sách nhà nước) tương ứng với các kỳ đóng cụ thể như sau: đóng 3 tháng/lần = 52.650 đồng x 3 tháng = 157.950 đồng; đóng 6 tháng = 52.650 đồng x 6 tháng = 315.900 đồng; đóng 12 tháng = 52.650 đồng x 12 tháng = 631.800 đồng.

Về thời hạn sử dụng thẻ BHYT: đối với trẻ từ 0 đến 6 tuổi sinh từ ngày 30/9 trở về trước, thẻ có giá trị sử dụng từ ngày sinh đến hết ngày 30/9 của năm trẻ đủ 72 tháng tuổi. Trường hợp trẻ sinh sau ngày 30/9, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày sinh đến hết ngày cuối của tháng trẻ đủ 72 tháng tuổi.

Đối với học sinh lớp 1, nếu trẻ sinh từ ngày 30/9 trở về trước: Giá trị sử dụng thẻ BHYT bắt đầu từ ngày 1/10 năm đầu tiên của cấp tiểu học. Đối với trẻ sinh sau ngày 30/9, giá trị sử dụng thẻ từ ngày cuối của tháng trẻ đủ 72 tháng tuổi. Với học sinh lớp 12, thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết ngày 30/9 của năm đó.

HSSV của cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ở năm thứ nhất của khóa học, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày nhập học, trừ trường hợp thẻ từ năm lớp 12 đang còn giá trị sử dụng.Với HSSV năm cuối của khóa học, thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến ngày cuối của tháng kết thúc khóa học.

Vũ Luyện

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80