Coi các chỉ số về cảm nhận của doanh nghiệp là thước đo hiệu quả

Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP, năm 2026, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 50 quốc gia đứng đầu về Chỉ số Phát triển bền vững (SDG); tăng ít nhất 3 bậc về Chỉ số Quyền tài sản (IPRI); tăng tối thiểu 1 bậc về Chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII); tăng ít nhất 4 bậc về Chỉ số Hiệu quả logistics (LPI) và Chỉ số Năng lực phát triển du lịch (TTDI). Đồng thời, Việt Nam đặt mục tiêu cải thiện rõ rệt các chỉ số về chính quyền điện tử, an toàn thông tin mạng và duy trì vị trí trong nhóm quốc gia có mức độ an toàn cao.

Bên cạnh đó, Nghị quyết lần đầu tiên chính thức hóa các chỉ số “nội địa” làm thước đo hiệu quả. Theo đó, đặt mục tiêu Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) phấn đấu tăng 1 điểm ở chỉ số trung vị; Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index) đạt bình quân 84,7%; Chỉ số Sự hài lòng của người dân (SIPAS) đạt 86%.

Thông điệp mạnh mẽ về cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh
Nghị quyết số 02/NQ-CP xác định tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Ảnh: Đức Thanh

Việc đưa các chỉ số này vào Nghị quyết được xem là bước ngoặt, buộc các bộ, ngành và địa phương phải quan tâm thực chất hơn đến “cảm nhận” của người dân và doanh nghiệp, coi đây là thước đo quan trọng của hiệu quả chính sách.

Ý nghĩa của sự điều chỉnh này càng trở nên rõ ràng khi nhìn vào thực trạng “sức khỏe” của khu vực doanh nghiệp. Số liệu cho thấy, khu vực này đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất. Riêng tháng 12/2025, có hơn 17.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng hơn 70% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư tư nhân năm 2025 tăng 8,4%, cho thấy sự chuyển trạng thái từ phòng thủ sang sẵn sàng đón chu kỳ tăng trưởng mới.

Nền tảng quan trọng để khơi thông nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh

Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 không chỉ là bản kế hoạch hành động, mà còn là cam kết của Chính phủ về một môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn và thuận lợi, nơi thành công của doanh nghiệp chính là thước đo hiệu quả quản lý của nhà nước.

Trong giai đoạn mà dư địa chính sách tài khóa, tiền tệ cần được sử dụng hiệu quả hơn để hỗ trợ tăng trưởng, việc cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng thực chất, minh bạch và ổn định chính là nền tảng quan trọng để khơi thông nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh và tạo động lực phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, nhìn sâu vào các con số, năng lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vẫn là vấn đề cần được quan tâm. Khảo sát cộng đồng doanh nghiệp cho thấy, chỉ 11,2% doanh nghiệp đạt mức lãi như kế hoạch, trong khi khoảng 40,7% dự kiến thua lỗ hoặc hòa vốn. Phần lớn doanh nghiệp chỉ “lãi chút ít”, năng lực tích lũy vốn còn hạn chế, thậm chí không ít doanh nghiệp tiếp tục duy trì trạng thái cầm chừng, chưa sẵn sàng mở rộng quy mô đầu tư.

Điều này cho thấy, môi trường kinh doanh dù đã được cải thiện, song vẫn còn những “điểm nghẽn” khiến doanh nghiệp chưa thực sự yên tâm mở rộng đầu tư. Những rào cản lớn nhất vẫn được nhắc đến như gánh nặng thủ tục hành chính, chi phí không chính thức và đặc biệt là sự thiếu nhất quán trong thực thi chính sách tại địa phương. Số lượng lớn các luật, nghị định được ban hành trong thời gian ngắn nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý là điều rất cần thiết, song cũng đặt ra thách thức không nhỏ về khả năng tiếp cận, tuân thủ của doanh nghiệp nếu các văn bản hướng dẫn chậm được ban hành hoặc thiếu thống nhất.

Nâng cao chất lượng thực thi, gắn trách nhiệm cụ thể

Trong bối cảnh đó, việc Nghị quyết số 02/NQ-CP đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng thực thi, gắn trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương, đồng thời đo lường kết quả cải cách thông qua cảm nhận của doanh nghiệp và người dân, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Nghị quyết xác định quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là kiên quyết chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật từ “quản lý” sang “kiến tạo, phát triển”, lấy người dân và doanh nghiệp là đối tượng phục vụ; sửa đổi đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tháo gỡ triệt để các “điểm nghẽn”; đưa thể chế từ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thành “lợi thế cạnh tranh quốc gia” và động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước.

Đi cùng với đó là đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để gắn liền với cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; tăng cường công khai, minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình nhằm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Hỗ trợ thực chất, hiệu quả cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh

Nghị quyết số 02/NQ-CP đưa ra các nhóm giải pháp về hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế nhà nước phát triển bền vững, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, tập trung thu hút và làm chủ công nghệ cao, tiên tiến để nâng cao năng lực cạnh tranh, kinh doanh hiệu quả, bền vững.

Đồng thời, hỗ trợ thực chất, hiệu quả cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh; xây dựng một hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ đầy đủ, chuyên nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh.

Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu chuyển mạnh mẽ từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo và phục vụ”, thay thế phương thức “tiền kiểm” bằng “hậu kiểm” dựa trên hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng. Đồng thời bảo đảm phân công, phân cấp, phân nhiệm rõ ràng giữa các cấp, các ngành và trong từng cơ quan, đơn vị, theo tiêu chí “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, nhằm đạt được mục tiêu “3 dễ”: dễ triển khai thực hiện, dễ kiểm tra, dễ đánh giá...

​​​​​Từ các mục tiêu, quan điểm này, Nghị quyết nêu rõ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.

Theo đó, tiếp tục rà soát và nâng cao chất lượng danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện. Cắt giảm và chuẩn hóa các điều kiện kinh doanh đảm bảo tính hợp lý, minh bạch theo hướng chuyển việc quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang thực hiện công bố điều kiện kinh doanh và hậu kiểm. Phấn đấu đến năm 2026 cắt giảm, đơn giản hóa 100% điều kiện kinh doanh không cần thiết.

Đổi mới toàn diện việc thực hiện thủ tục hành chính, chuyển từ “bị động” sang “chủ động phục vụ”, không phụ thuộc vào địa giới hành chính và hoàn toàn dựa trên dữ liệu; tăng cường chỉ đạo điều hành, giám sát, đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp tại các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo thời gian thực dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ nhân dân. Triển khai số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính; đảm bảo 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến toàn trình.

Về nguồn lực, Nghị quyết xác định ưu tiên khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh (hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia năm 2026) và nguồn nhân lực chất lượng cao.