Chất lượng nợ vay cải thiện, vẫn cần lưu ý 4 điểm đẩy nợ xấu dềnh lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chất lượng nợ vay có xu hướng cải thiện trong quý cuối, giúp tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng năm 2024 giảm 5 điểm cơ bản. Giới phân tích kỳ vọng xu hướng này tiếp tục giúp giảm áp lực nợ xấu, tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng tín dụng năm 2025 với rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có 4 điểm có thể khiến nợ xấu dềnh lên.
aa
Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Sớm luật hóa Nghị quyết 42, tránh để nợ xấu phình to

Đánh giá về chất lượng tài sản các ngân hàng, báo cáo từ Khối Dịch vụ Thông tin Tài chính Công ty Cổ phần FiinGroup cho thấy, chất lượng nợ vay có xu hướng cải thiện rõ rệt trong quý IV/2024 ở cả nhóm quốc doanh và tư nhân.

Nếu xu hướng này tiếp tục, áp lực nợ xấu trong năm 2025 có thể giảm, tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng tín dụng với rủi ro thấp hơn và qua đó, hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận.

Nợ xấu giảm 5 điểm cơ bản năm 2024

Theo thống kê của FiinGroup, tỷ lệ nợ xấu mới hình thành giảm 0,2% nhờ sụt giảm ở cả nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ. Điều này đồng nghĩa với việc hạn chế được các khoản vay chuyển sang nhóm rủi ro hơn.

Một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu nội bảng giảm mạnh đáng chú ý trong quý IV/2024 là VPBank, VIB, SHB, MB, LPBank và TPBank.

Chất lượng tài sản các ngân hàng 2025
Nguồn: FiinGroup.

Chất lượng tài sản ngân hàng nhỏ vẫn suy giảm

"Ngược lại, chất lượng tài sản của các ngân hàng nhỏ tập trung vào khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa vừa nhỏ (Saigonbank, ABBank, Bac A Bank) bị suy giảm, chủ yếu do nợ xấu từ các khoản vay mua nhà. Có 22% ngân hàng theo phân tích của chúng tôi có rủi ro tài sản ở mức yếu, không thay đổi so với năm 2023. Trong năm 2025, kỳ vọng điều kiện kinh doanh tích cực hơn sẽ thúc đẩy việc giảm tỷ lệ hình thành nợ xấu của toàn ngành" - nhóm phân tích VIS Rating đánh giá.

Cũng theo đánh giá của Công ty Cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating), rủi ro tài sản của ngành dần ổn định trong năm 2024, khi tỷ lệ hình thành nợ xấu giảm đối với một số ngân hàng quốc doanh và ngân hàng lớn.

"Tỷ lệ nợ xấu của ngành giảm nhẹ 5 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm ngoái, xuống còn 2,25% trong năm 2024" - VIS Rating chỉ rõ.

Một số ngân hàng lớn đã chủ động thắt chặt việc cấp tín dụng cho các khoản vay tiêu dùng mới (VPBank) và có tỷ lệ nợ xấu các khoản vay mua nhà thấp hơn trong nửa cuối năm 2024 (Techcombank).

Trong các ngân hàng quốc doanh, tỷ lệ nợ xấu phát sinh mới của VietinBank đã giảm mạnh trong nửa cuối năm 2024, trong khi BIDV và Vietcombank đã giảm nợ xấu thông qua việc đẩy mạnh xóa nợ.

Đánh giá về chất lượng tài sản ngành ngân hàng, chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Trung tâm Thông tin, phân tích và dự báo kinh tế, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, trong quá trình phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng trải qua rất nhiều sóng gió và có tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm như trong việc xử lý nợ xấu trong việc xử lý khi những bất lợi về vĩ mô.

Theo đánh giá của đại diện Ban Kinh tế Trung ương, trong ba quý đầu năm 2024, nợ xấu gia tăng khá lớn và giảm dần trong quý IV/2024, tạo ra những tín hiệu tốt cho hệ thống. Tuy nhiên, ông Tú Anh cũng nhận thấy một số yếu tố rủi ro đối với hệ thống ngân hàng.

Bộ đệm dự phòng nợ xấu vẫn mỏng

Phân tích 4 rủi ro có thể gia tăng áp lực nợ xấu, theo ông Nguyễn Tú Anh, thứ nhất, Thông tư 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn đã hết hiệu lực từ 31/12/2024.

"Có thể bức tranh nợ xấu sẽ rõ hơn và có những khoản nợ tái cơ cấu không được chuyển xuống nhóm nợ thấp hơn, nợ ít rủi ro hơn" - ông Tú Anh bày tỏ.

Nợ xấu đáng ngại từ cho vay bất động sản

"Thứ ba, rủi ro trên thị trường bất động sản là thanh khoản chậm phục hồi và neo ở mức giá cao sẽ dẫn đến hậu quả khá lớn. Đó là những doanh nghiệp bất động sản có những khoản vay lớn chưa thể thanh toán được và sẽ làm tăng nợ xấu trong hệ thống. Còn nếu giảm giá giá thị trường bất động sản để đẩy nhanh thanh khoản lại dẫn đến rủi ro giá trị các khoản thế chấp bằng bất động sản sẽ giảm và cũng sẽ làm tăng nguy cơ nợ xấu" - ông Tú Anh lưu ý.

Thứ hai, để tạo đà cho mục tiêu tăng trưởng GDP khá cao, mục tiêu tăng trưởng tín dụng đặt ra lên đến 16%. Điều này sẽ khả thi nếu nền kinh tế đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng 8% như đặt ra.

Nếu rủi ro nền kinh tế không đạt được tốc độ này bởi còn phụ thuộc nhiều vào bên ngoài, thì có thể với sức ép tăng trưởng cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ xấu có thể gia tăng, khi cố gắng đẩy tín dụng trong một bối cảnh bất lợi.

Thứ tư, nếu chênh lệch lãi suất USD-VND vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao thì dự báo cán cân thanh toán sẽ tiếp tục âm như nhiều quý vừa qua.

Theo dữ liệu cập nhật của Ngân hàng Nhà nước, cán cân thanh toán tổng thể có chuyển biến tích cực hơn, với mức độ thâm hụt đã thu hẹp trong quý III/2024, chỉ còn thâm hụt 59 triệu USD, giảm mạnh so với mức thâm hụt gần 6,066 tỷ USD và 1,371 tỷ USD của hai quý trước liền kề.

Tuy nhiên, đáng lưu ý chỉ tiêu lỗi và sai sót trên cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam tiếp tục phát sinh hơn 4,8 tỷ USD trong quý III/2024, nâng lũy kế ba quý đầu năm 2024 lên 16,6 tỷ USD, tăng 19,4% cùng kỳ. Đây là một trong những yếu tố khiến cán cân vãng lai dù thặng dư lớn nhưng cán cân thanh toán vẫn thâm hụt 59 triệu USD.

Trước tình hình đó, theo ông Nguyễn Tú Anh, cán cân thanh toán sẽ tiếp tục âm, cùng chỉ tiêu lỗi và sai sót vẫn tiếp tục ở mức rất cao có thể khiến dự trữ ngoại hối không tăng mà giảm.

"Khi đó, cung tiền đưa ra sẽ rất khó, khiến khó tăng tín dụng như kỳ vọng và khả năng các khoản nợ tái cơ cấu, khoản nợ nhóm 3, nhóm 4 khó cải thiện và có thể chuyển lên các nhóm nợ cao hơn" - ông Tú Anh lưu ý.

Về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, theo đánh giá của FiinGroup, toàn ngành tiếp tục có sự cải thiện nhẹ mặc dù vẫn thấp hơn giai đoạn đỉnh điểm năm 2022 (149,2%), cho thấy hệ thống ngân hàng đang dần thích nghi với môi trường tín dụng thận trọng hơn. Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước vẫn duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu tương đối cao, bao gồm Vietcombank (223,3%), BIDV (133,7%) và VietinBank (170,7%).

Ngược lại, tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức thấp đối với phần lớn các ngân hàng thương mại tư nhân, phản ánh sự hạn chế trong việc gia tăng trích lập dự phòng so với nhóm quốc doanh.

Chất lượng tài sản các ngân hàng 2025
Các ngân hàng tiếp tục tăng trích lập dự phòng nhưng tỷ lệ bao phủ vẫn tương đối thấp ở phần lớn các ngân hàng. Nguồn: FiinGroup.

"Với kỳ vọng thị trường bất động sản tiếp tục hồi phục và Chính phủ đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, triển vọng tăng trưởng lợi nhuận và chất lượng tài sản dần cải thiện sẽ là yếu tố hỗ trợ về nền tảng cơ bản" - FiinGroup nhận định.

Trong nhóm tư nhân, Techcombank, MB và ACB là các ngân hàng có tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) ở mức cao, cho thấy khả năng sinh lời tốt của các ngân hàng này. Với VPBank và VIB, kỳ vọng tín dụng tiêu dùng hồi phục mạnh trong năm 2025 sẽ tạo cơ hội cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản và nhờ đó, hỗ trợ tái định giá cổ phiếu.

Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank tiếp tục được định giá cao nhờ lợi thế tệp khách hàng chất lượng, quy mô vốn vượt trội, chi phí tín dụng thấp và hiệu quả sử dụng tài sản cao.

Trong khi đó, VietinBank và BIDV có hiệu quả sử dụng tài sản thấp hơn so với Vietcombank và nhiều ngân hàng tư nhân, nhưng chất lượng tài sản được kỳ vọng cải thiện sau giai đoạn tập trung xử lý nợ xấu. Điều này giúp VietinBank và BIDV có dư địa mở rộng tín dụng năm 2025 với rủi ro thấp hơn, hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Kim TT/AVPL 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Nguyên Liệu 99.99 14,890 ▲90K 15,090 ▲90K
Nguyên Liệu 99.9 14,840 ▲90K 15,040 ▲90K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 ▲90K 16,090 ▲90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 ▲90K 16,040 ▲90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 ▲90K 16,020 ▲90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Hà Nội - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Miền Tây - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,430 ▲90K 16,130 ▲90K
Trang sức 99.99 15,440 ▲90K 16,140 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 ▲1435K 16,242 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 ▲1435K 16,243 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 ▲1431K 1,619 ▲1458K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 ▲1431K 162 ▼1449K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 ▲1413K 1,604 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 ▲891K 158,812 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 ▲675K 120,462 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 ▲612K 109,233 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 ▲549K 98,004 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 ▲525K 93,673 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 ▲375K 67,043 ▲375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Cập nhật: 21/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18212 18487 19062
CAD 18608 18885 19498
CHF 32805 33190 33829
CNY 0 3834 3926
EUR 29947 30220 31250
GBP 34573 34965 35896
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15118 15702
SGD 20050 20333 20853
THB 721 784 838
USD (1,2) 26096 0 0
USD (5,10,20) 26138 0 0
USD (50,100) 26166 26186 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26391
AUD 18436 18536 19461
CAD 18806 18906 19921
CHF 33102 33132 34715
CNY 3814.7 3839.7 3975.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30195 30225 31950
GBP 34920 34970 36731
HKD 0 3355 0
JPY 162.29 162.79 173.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20223 20353 21080
THB 0 751.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16000000 16000000 16300000
SBJ 14000000 14000000 16300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80