Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế:

Điểm tựa an sinh trong biến động

Hà My
(TBTCO) - Năm 2025 ghi dấu nhiều biến động lớn của kinh tế - xã hội, từ thiên tai, bão lũ đến những yêu cầu cải cách mạnh mẽ về thể chế và bộ máy. Trong bối cảnh đó, hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục khẳng định vai trò là trụ cột an sinh vững chắc, bảo đảm quyền lợi cho hàng chục triệu người dân, góp phần ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
aa

Vận hành mô hình mới, đồng bộ chính sách tài khóa và an sinh

Năm 2025 là năm tăng tốc hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, đồng thời đặt nền móng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước. Đây cũng là năm Bảo hiểm xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng khi chính thức trở thành đơn vị đặc thù trực thuộc Bộ Tài chính.

Việc vận hành theo mô hình mới mang ý nghĩa đặc biệt khi lần đầu tiên chính sách tài khóa và chính sách an sinh xã hội được triển khai trong một chỉnh thể thống nhất, đồng bộ và liên thông. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, xuyên suốt của Bộ Tài chính, nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng đã được ban hành, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm quyền lợi của người dân, người lao động và doanh nghiệp trong quá trình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Điểm tựa an sinh trong biến động
Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tới hộ kinh doanh tại Bắc Ninh. Ảnh: BHXHVN

Trên cơ sở đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động tham mưu hoàn thiện thể chế an sinh, đồng thời huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở địa phương. Đến nay, 34/34 tỉnh, thành phố đã kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; hầu hết các địa phương đưa chỉ tiêu phát triển người tham gia vào nghị quyết của HĐND hoặc quyết định giao chỉ tiêu của UBND tỉnh. Đáng chú ý, nhiều địa phương đã chủ động nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cao hơn quy định chung, như TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Bắc Ninh, Đồng Nai, Cần Thơ, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Ninh Bình…

Năm 2025, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương đã tác động mạnh đến đời sống người dân và việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Tuy vậy, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam vẫn kiên trì phát triển người tham gia, bảo đảm an sinh ngày càng được mở rộng.

Theo đó, diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục mở rộng, hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao, ngay cả ở những địa phương chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ. Ước trong năm 2025, độ bao phủ bảo hiểm xã hội đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 38,6% lực lượng lao động trong độ tuổi; bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 6,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; bảo hiểm thất nghiệp đạt gần 35,1% lực lượng lao động trong độ tuổi; bảo hiểm y tế đạt trên 95,1% dân số, đưa Việt Nam sớm hoàn thành mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

Bảo đảm chi trả đầy đủ quyền lợi cho người dân trong mọi hoàn cảnh

Song hành với mở rộng diện bao phủ, nhiệm vụ bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được đặt lên hàng đầu. Ước trong năm 2025, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho 186.119 người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; hơn 1,04 triệu người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần; hơn 9,09 triệu lượt người được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.

Đối với chính sách bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội đã tiếp nhận và chi trả 759.198 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, đồng thời thực hiện chi trả cho 14.184 quyết định hỗ trợ học nghề. Việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp được triển khai đồng bộ trên môi trường điện tử, góp phần rút ngắn thời gian xử lý, tạo thuận lợi tối đa cho người lao động.

Linh hoạt trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính

Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động nắm bắt chủ trương, chuẩn bị các điều kiện cần thiết “từ sớm, từ xa”; tăng cường chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố có các giải pháp linh hoạt trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính để đảm bảo hoạt động thông suốt, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, người tham gia và thụ hưởng chính sách. Ước năm 2025, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp nhận 123,7 triệu hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có 113,57 triệu hồ sơ giao dịch điện tử (chiếm 91,81% tổng số hồ sơ tiếp nhận, tăng 6,2% so với năm 2024).

Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo đảm quyền lợi cho người chịu tác động của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bố trí đầy đủ nguồn lực để giải quyết kịp thời chế độ theo các nghị định của Chính phủ. Tính đến hết tháng 11/2025, cơ quan bảo hiểm xã hội đã giải quyết cho 1.063 trường hợp nghỉ hưu theo Nghị định số 177/2024/NĐ-CP với tổng số tiền lương hưu thực hiện chi trả là 8,5 tỷ đồng và 78.511 trường hợp nghỉ theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP với tổng số tiền chi trả 576,9 tỷ đồng.

Công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tiếp tục được tổ chức chặt chẽ, an toàn và linh hoạt. Hằng tháng, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện chi trả an toàn cho trên 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, trong đó khoảng 83% người thụ hưởng tại khu vực đô thị nhận qua tài khoản cá nhân - con số cho thấy bước tiến rõ nét của cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh.

Trong những thời điểm khó khăn do thiên tai, vai trò điểm tựa của chính sách an sinh càng thể hiện rõ nét. Trước diễn biến bão lũ nghiêm trọng năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã kịp thời chi trả gộp 3 tháng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người thụ hưởng tại nhiều địa phương như Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng; đồng thời bảo đảm khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không gián đoạn cho người dân vùng bị ảnh hưởng.

Trong lĩnh vực khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, năm 2025 ước có khoảng 195,5 triệu lượt khám chữa bệnh, với chi phí đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng lần lượt 6,5% và 14,3% so với năm 2024. Đáng chú ý, trước diễn biến phức tạp của tình hình bão, lũ trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã kịp thời chỉ đạo các địa phương triển khai nhiều giải pháp linh hoạt như: cấp, gia hạn thẻ bảo hiểm y tế trên hệ thống; tháo gỡ vướng mắc về thủ tục khám chữa bệnh; đề nghị cơ sở khám chữa bệnh cấp thuốc bảo hiểm y tế cho đợt điều trị mới kể cả khi người bệnh đến sớm hơn ngày hẹn tái khám và cấp thuốc ít nhất 2 tháng;... bảo đảm người dân tại vùng bị thiên tai vẫn được tiếp cận đầy đủ, kịp thời các quyền lợi bảo hiểm y tế .

Từ thực tiễn năm 2025, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam bước vào năm 2026 với quyết tâm đổi mới mạnh mẽ hơn, lấy hiệu quả hoạt động và chất lượng phục vụ người dân làm trung tâm. Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục đối mặt nhiều thách thức, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà thực sự là điểm tựa an sinh vững chắc, góp phần ổn định xã hội, củng cố niềm tin và tạo nền tảng cho phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Điểm tựa an sinh trong biến động
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đồ họa: Phương Anh
Hà My

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80