Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế:

Điểm tựa an sinh trong biến động

Hà My
(TBTCO) - Năm 2025 ghi dấu nhiều biến động lớn của kinh tế - xã hội, từ thiên tai, bão lũ đến những yêu cầu cải cách mạnh mẽ về thể chế và bộ máy. Trong bối cảnh đó, hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục khẳng định vai trò là trụ cột an sinh vững chắc, bảo đảm quyền lợi cho hàng chục triệu người dân, góp phần ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
aa

Vận hành mô hình mới, đồng bộ chính sách tài khóa và an sinh

Năm 2025 là năm tăng tốc hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, đồng thời đặt nền móng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước. Đây cũng là năm Bảo hiểm xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng khi chính thức trở thành đơn vị đặc thù trực thuộc Bộ Tài chính.

Việc vận hành theo mô hình mới mang ý nghĩa đặc biệt khi lần đầu tiên chính sách tài khóa và chính sách an sinh xã hội được triển khai trong một chỉnh thể thống nhất, đồng bộ và liên thông. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, xuyên suốt của Bộ Tài chính, nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng đã được ban hành, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm quyền lợi của người dân, người lao động và doanh nghiệp trong quá trình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Điểm tựa an sinh trong biến động
Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tới hộ kinh doanh tại Bắc Ninh. Ảnh: BHXHVN

Trên cơ sở đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động tham mưu hoàn thiện thể chế an sinh, đồng thời huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở địa phương. Đến nay, 34/34 tỉnh, thành phố đã kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; hầu hết các địa phương đưa chỉ tiêu phát triển người tham gia vào nghị quyết của HĐND hoặc quyết định giao chỉ tiêu của UBND tỉnh. Đáng chú ý, nhiều địa phương đã chủ động nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cao hơn quy định chung, như TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Bắc Ninh, Đồng Nai, Cần Thơ, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Ninh Bình…

Năm 2025, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương đã tác động mạnh đến đời sống người dân và việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Tuy vậy, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam vẫn kiên trì phát triển người tham gia, bảo đảm an sinh ngày càng được mở rộng.

Theo đó, diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục mở rộng, hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao, ngay cả ở những địa phương chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ. Ước trong năm 2025, độ bao phủ bảo hiểm xã hội đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 38,6% lực lượng lao động trong độ tuổi; bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 6,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; bảo hiểm thất nghiệp đạt gần 35,1% lực lượng lao động trong độ tuổi; bảo hiểm y tế đạt trên 95,1% dân số, đưa Việt Nam sớm hoàn thành mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

Bảo đảm chi trả đầy đủ quyền lợi cho người dân trong mọi hoàn cảnh

Song hành với mở rộng diện bao phủ, nhiệm vụ bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được đặt lên hàng đầu. Ước trong năm 2025, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho 186.119 người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; hơn 1,04 triệu người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần; hơn 9,09 triệu lượt người được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.

Đối với chính sách bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội đã tiếp nhận và chi trả 759.198 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, đồng thời thực hiện chi trả cho 14.184 quyết định hỗ trợ học nghề. Việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp được triển khai đồng bộ trên môi trường điện tử, góp phần rút ngắn thời gian xử lý, tạo thuận lợi tối đa cho người lao động.

Linh hoạt trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính

Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động nắm bắt chủ trương, chuẩn bị các điều kiện cần thiết “từ sớm, từ xa”; tăng cường chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố có các giải pháp linh hoạt trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính để đảm bảo hoạt động thông suốt, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, người tham gia và thụ hưởng chính sách. Ước năm 2025, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp nhận 123,7 triệu hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có 113,57 triệu hồ sơ giao dịch điện tử (chiếm 91,81% tổng số hồ sơ tiếp nhận, tăng 6,2% so với năm 2024).

Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo đảm quyền lợi cho người chịu tác động của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bố trí đầy đủ nguồn lực để giải quyết kịp thời chế độ theo các nghị định của Chính phủ. Tính đến hết tháng 11/2025, cơ quan bảo hiểm xã hội đã giải quyết cho 1.063 trường hợp nghỉ hưu theo Nghị định số 177/2024/NĐ-CP với tổng số tiền lương hưu thực hiện chi trả là 8,5 tỷ đồng và 78.511 trường hợp nghỉ theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP với tổng số tiền chi trả 576,9 tỷ đồng.

Công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tiếp tục được tổ chức chặt chẽ, an toàn và linh hoạt. Hằng tháng, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện chi trả an toàn cho trên 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, trong đó khoảng 83% người thụ hưởng tại khu vực đô thị nhận qua tài khoản cá nhân - con số cho thấy bước tiến rõ nét của cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh.

Trong những thời điểm khó khăn do thiên tai, vai trò điểm tựa của chính sách an sinh càng thể hiện rõ nét. Trước diễn biến bão lũ nghiêm trọng năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã kịp thời chi trả gộp 3 tháng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người thụ hưởng tại nhiều địa phương như Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng; đồng thời bảo đảm khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không gián đoạn cho người dân vùng bị ảnh hưởng.

Trong lĩnh vực khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, năm 2025 ước có khoảng 195,5 triệu lượt khám chữa bệnh, với chi phí đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng lần lượt 6,5% và 14,3% so với năm 2024. Đáng chú ý, trước diễn biến phức tạp của tình hình bão, lũ trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã kịp thời chỉ đạo các địa phương triển khai nhiều giải pháp linh hoạt như: cấp, gia hạn thẻ bảo hiểm y tế trên hệ thống; tháo gỡ vướng mắc về thủ tục khám chữa bệnh; đề nghị cơ sở khám chữa bệnh cấp thuốc bảo hiểm y tế cho đợt điều trị mới kể cả khi người bệnh đến sớm hơn ngày hẹn tái khám và cấp thuốc ít nhất 2 tháng;... bảo đảm người dân tại vùng bị thiên tai vẫn được tiếp cận đầy đủ, kịp thời các quyền lợi bảo hiểm y tế .

Từ thực tiễn năm 2025, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam bước vào năm 2026 với quyết tâm đổi mới mạnh mẽ hơn, lấy hiệu quả hoạt động và chất lượng phục vụ người dân làm trung tâm. Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục đối mặt nhiều thách thức, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà thực sự là điểm tựa an sinh vững chắc, góp phần ổn định xã hội, củng cố niềm tin và tạo nền tảng cho phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Điểm tựa an sinh trong biến động
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đồ họa: Phương Anh
Hà My

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

(TBTCO) - PGBank lãi trước thuế 439,8 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 65,8% so với cùng kỳ nhờ đà tăng các nguồn thu ngoài lãi và chi phí dự phòng giảm; dư nợ cho vay khách hàng tăng 4,3%, lên 48.349 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đã hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 7.327 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng trong nửa đầu năm nhờ NIM cải thiện, tín dụng tăng vượt bình quân ngành

ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng trong nửa đầu năm nhờ NIM cải thiện, tín dụng tăng vượt bình quân ngành

(TBTCO) - ACB lãi trước thuế 10.735 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, hoàn thành 107% kế hoạch bán niên. NIM cải thiện lên 3,02%, dư nợ cho vay khách hàng đạt gần 746 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với đầu năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng bình quân của toàn ngành.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲700K 141,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲700K 141,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲700K 141,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲700K 141,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲700K 141,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲700K 141,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲200K 14,150 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲200K 14,150 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲200K 14,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲200K 14,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲200K 14,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲200K 14,150 ▲100K
NL 99.99 13,100 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲100K
Trang sức 99.9 13,340 ▲100K 14,040 ▲100K
Trang sức 99.99 13,350 ▲100K 14,050 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲20K 14,152 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲20K 14,153 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▲2K 141 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▲2K 1,411 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▲2K 139 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲990K 137,624 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▲75K 10,441 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲680K 94,679 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲610K 84,948 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲583K 81,195 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲417K 58,119 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲10K 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲20K 1,415 ▲10K
Cập nhật: 25/07/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/07/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80