Phát biểu tại hội thảo, Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành cho biết, nhìn lại công tác quản lý thuế hiện nay, có thể thấy bản chất của hệ thống thuế vốn đơn giản, nhưng để kiểm soát rủi ro và ngăn chặn gian lận, ngành Thuế đã phải thiết lập nhiều quy định, dẫn đến sự phức tạp trong quá trình thực thi. Sự phức tạp này vô hình trung tạo ra áp lực và tâm lý e ngại cho cả người dân, doanh nghiệp lẫn cán bộ quản lý.

Định hình mô hình quản trị thuế số hướng tới hệ sinh thái thuế thông minh, minh bạch
Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Phương Thảo

“Do đó, mục tiêu của chiến lược, kế hoạch và mô hình quản trị thuế số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn số đến năm 2045 là phải tạo ra sự đột phá toàn diện về mặt kiến trúc hệ thống và quy trình nghiệp vụ” - Cục trưởng Mai Xuân Thành nhấn mạnh

Từ mục tiêu đề ra, Lãnh đạo Cục Thuế đề nghị các chuyên gia tập trung trao đổi và chia sẻ cụ thể về hỗ trợ người nộp thuế: phải hướng tới việc giảm thiểu tối đa nghĩa vụ kê khai thủ công. Đích đến là mô hình “zero-touch” - nơi hệ thống công nghệ thông tin tự động xử lý các nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu liên thông.

Theo đó, người nộp thuế sẽ tương tác với một hệ thống thông minh, thân thiện và hiện đại như tại các quốc gia phát triển, thay vì phải thực hiện các thủ tục hành chính rườm rà. Hệ thống phải đóng vai trò là người hướng dẫn, tự động đưa ra các phương án đúng cho từng tình huống cụ thể.

Về hệ thống hỗ trợ quản lý và vận hành: dữ liệu phải là nền tảng cốt lõi. Ngành Thuế đang quy hoạch lại hàng trăm ứng dụng hiện hữu để tích hợp thành một hệ thống liên thông, toàn diện. Cơ quan thuế phải chuyển đổi từ việc quản lý dựa trên hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu 360+ độ của doanh nghiệp. Tự động hóa phải được áp dụng triệt để nhằm đưa cơ quan thuế trở nên “vô hình” trong các giao dịch thông thường, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của cán bộ, công chức thuế.

Định hình mô hình quản trị thuế số hướng tới hệ sinh thái thuế thông minh, minh bạch
Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: Phương Thảo

Về kiểm soát rủi ro: hệ thống mới phải đủ năng lực xử lý lượng dữ liệu khổng lồ, ứng dụng các mô hình phân tích sâu để nhận diện và truy vết các dấu hiệu gian lận. Đây là công cụ đắc lực để bảo vệ nguồn thu ngân sách, đồng thời tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch.

Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, Lãnh đạo Cục Thuế đề nghị lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính cùng các Lãnh đạo Cục Thuế, Trưởng các ban, đơn vị thuộc Cục Thuế, lãnh đạo Thuế tỉnh, thành phố cùng các chuyên gia tư vấn của Liên danh EY-ONENET tập trung trí tuệ, thảo luận sâu sắc và đi đến thống nhất các nội dung trọng tâm về tuyên ngôn, tầm nhìn ngành Thuế giai đoạn 2030 - 2045 và chiến lược chuyển đổi số ngành Thuế giai đoạn 2026 - 2030.

Chia sẻ tại hội thảo, bà Nguyễn Thùy Dương - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH EY Việt Nam cho biết, chiến lược chuyển đổi số ngành Thuế giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ là câu chuyện về công nghệ, mà là sự chuyển đổi toàn diện về tư duy quản trị, mô hình vận hành và cách thức cung cấp dịch vụ công.

“Chiến lược và mô hình quản trị thuế số ngành Thuế” không chỉ là diễn đàn thảo luận chuyên môn, mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng tuyên ngôn, tầm nhìn ngành Thuế đến năm 2045 và chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030.

Theo bà Nguyễn Thùy Dương, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những cơ quan thuế thành công trong chuyển đổi số đều bắt đầu từ việc xác định rõ tầm nhìn dài hạn, xây dựng kiến trúc tổng thể dựa trên dữ liệu và lấy người nộp thuế làm trung tâm.

Tại hội thảo, các chuyên gia quốc tế đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng chiến lược chuyển đổi số, tái thiết kế quy trình nghiệp vụ và quản lý thuế dựa trên dữ liệu. Đồng thời, các chuyên gia còn dành nhiều thời gian lắng nghe ý kiến từ đại diện các ban, đơn vị và cơ quan thuế địa phương, đặc biệt là những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn triển khai.

Trên tinh thần trao đổi cởi mở, thẳng thắn và xây dựng, hai bên đã cùng thảo luận, làm rõ các vấn đề còn khác biệt và bước đầu định hình những giải pháp phù hợp với điều kiện pháp lý, tổ chức bộ máy và hạ tầng công nghệ của Việt Nam./.