Dự báo "gam màu sáng, tối" trong bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng quý cuối năm

Ánh Tuyết
MBS dự báo trong quý IV/2024, ba ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng nhờ nền so sánh thấp của năm ngoái vì trích lập dự phòng cao, đó là OCB, TPBank và VPBank. Bên cạnh các ngân hàng tăng trưởng khởi sắc mang gam màu sáng, một số ngân hàng lại xám màu về lợi nhuận.
aa

Trong bối cảnh ngành ngân hàng tăng tốc tăng trưởng tín dụng trong quý cuối năm, tại báo cáo phân tích mới công bố, Chứng khoán MB (MBS) dự báo lợi nhuận sau thuế quý IV các ngân hàng trong danh sách theo dõi sẽ tăng 14,5% so với cùng kỳ và tăng trưởng 11,1% so với quý III. Trong đó, có một số ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận đột biến.

Vì sao tăng trưởng đột biến?

Mặc dù ước tính tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng trong quý IV/2024 sẽ cao hơn so với quý III/2024 nhưng chuyên gia phân tích từ MBS cho rằng biên lãi ròng (NIM) dự kiến sẽ giảm nhẹ. Cùng với đó, thu nhập ngoài lãi được dự báo sẽ suy giảm so với cùng kỳ do các hoạt động ngoài lãi vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục trong quý III/2024. Chi phí trích lập dự phòng dự báo sẽ cao hơn so với quý trước và tăng nhẹ 1,4% so với cùng kỳ trong quý IV/2024 do nền so sánh cao quý cuối năm ngoái.

Trong danh sách các ngân hàng theo dõi, MBS kỳ vọng OCB, TPBank và VPBank có mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng hơn cả nhờ nền so sánh thấp của năm ngoái khi chịu tác động bởi trích lập dự phòng cao. Trong khi đó, Vietinbank và Techcombank là hai ngân hàng có quy mô lớn được kỳ vọng sẽ có mức tăng khả quan hơn so với các ngân hàng cùng quy mô.

Theo dự báo của MBS, OCB có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ nhất quý IV/2024 trong toàn ngành. Tuy nhiên, tính chung năm 2024, tăng trưởng lợi nhuận lại đi lùi 18% so với cùng kỳ.

MBS cho rằng chi phí trích lập tiếp tục là gánh nặng của ngân hàng trong quý cuối năm, nhưng so với nền cao của năm ngoái lại ước tính giảm 33% so với cùng kỳ. NIM đi ngang so với quý III/2024, dự kiến đạt 3,4% nhưng tăng khoảng 100 điểm cơ bản so với cùng kỳ.

Thu nhập ngoài lãi tiếp tục suy giảm mạnh do các hoạt động thu phí vẫn sẽ còn nhiều thách thức. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) duy trì ở mức cao 40%, cao hơn rất nhiều so với năm 2023. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế được dự báo tăng khả quan nhờ nền so sánh rất thấp của quý cuối năm ngoái khi lợi nhuận sau thuế quý IV/2023 của ngân hàng này giảm sâu 87,6% so với cùng kỳ.

Dự báo
Nguồn: Dự báo của MBS.

Với TPBank, dự kiến lợi nhuận ròng tăng trưởng mạnh 172% cùng kỳ chủ yếu từ mức nền thấp của năm ngoái do ngân hàng này đầy mạnh trích lập dự phòng trong quý IV/2023), cả năm tăng 28%. Tăng trưởng tín dụng tăng 4,5% so với quý III/2024 trong khi NIM cải thiện nhẹ so với quý III/2024. NIM cả năm 2024 đạt 3,82% trong khi nợ xấu cải thiện 29 điểm cơ bản, giảm về mức 2,04%.

VPBank cũng nằm trong top các ngân hàng được dự báo sẽ tăng trưởng ba chữ số so với cùng kỳ (108%). Theo MBS, tín dụng được VPBank thúc đẩy mạnh khoảng 8% so với đầu năm cùng với NIM được duy trì ở mức 6% cho quý cuối năm. Chi phí trích lập dự phòng trong quý giảm 11% so với cùng kỳ và tương đương với quý trước. Thu ngoài lãi tương đương với 9 tháng năm 2024. Riêng FECredit ước tính ghi nhận khoảng 200 tỷ lợi nhuận trước thuế trong quý IV/2024.

Các "ông lớn" giữ nhịp tăng trưởng khả quan

Theo MBS, tăng trưởng tín dụng trong quý cuối năm của Vietinbank được dự báo sẽ đạt khoảng 4,5% với NIM giảm nhẹ xuống mức 2,8%. Chi phí trích lập giảm 12,5% so với cùng kỳ và giảm 33% so với quý trước do đã tăng cường trích lập mạnh trong 9 tháng đầu năm 2024. Thu nhập ngoài lãi vẫn duy trì tốc độ tăng như trong 9 tháng đầu năm.

Trong nhóm các "ông lớn" quốc doanh, dự báo quý IV/2024, Vietinbank dẫn đầu tăng trưởng lợi nhuận 20% so với cùng kỳ, trong khi BIDV và Vietcombank dự báo tăng trưởng lần lượt 7% và 3%.

Trong khối ngân hàng tư nhân có quy mô lớn, Techcombank được dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ đạt 5-6%. NIM được duy trì tương đương với 9 tháng 2024 ở mức 4,4%. Chi phí trích lập trong quý IV/2024 dự báo sẽ cao hơn 25% so với cùng kỳ nhằm kiểm soát nợ xấu tốt hơn khi tín dụng bán lẻ gia tăng. Thu nhập ngoài lãi giảm tốc so với 9 tháng đầu năm 2024 và được kỳ vọng sẽ đóng góp chủ yếu bởi hoạt động xử lý nợ.

Dự báo
Dự báo gam màu trong bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng quý cuối năm.

Trong bối cảnh tín dụng bán lẻ phục hồi chậm hơn kỳ vọng và cạnh tranh gắt gao, một số ngân hàng tăng trưởng chậm, thậm chí "cài số lùi" về lợi nhuận.

Chẳng hạn, với ACB, MBS dự tính kết quả kinh doanh quý cuối năm chủ yếu được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng khả quan hơn, ước tính khoảng 5% so với đầu năm trong khi NIM giảm xuống mức 3,6-3,7%. Chi phí trích lập đi ngang so với quý trước và cùng kỳ. Dự đoán ACB tăng trưởng lợi nhuận cao hơn trong quý IV/2024 song cả năm chỉ đạt 5%.

Với VIB, MBS dự báo tăng trưởng tín dụng được cải thiện đáng kể, ước tính tăng 10% so với đầu năm. Tuy nhiên, NIM bị ảnh hưởng nặng khi đạt 3,8% do phải hy sinh lãi suất cho vay nhằm đạt tăng trưởng tín dụng mục tiêu nhằm đảm bảo một hạn mức tín dụng cao trong năm 2025. Chi phí trích lập ước tính giảm 23% so với cùng kỳ và tăng 12% so với quý trước. Tăng trưởng lợi nhuận VIB cũng dự báo đi lùi 7% trong quý IV/2024 và kéo lùi tăng trưởng cả năm giảm tới 18% so với cùng kỳ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

(TBTCO) - Quý I/2026, Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đạt tổng doanh thu 8.164 tỷ đồng, hoàn thành 127% kế hoạch quý và tăng trưởng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi ổn định của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và chiến lược điều hành hiệu quả của Bảo hiểm PVI.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 30/4 không ghi nhận biến động mới, khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ giá, giao dịch trong vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Kim TT/AVPL 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲50K 15,450 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲50K 15,400 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,100 ▲50K 16,500 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,980 ▲50K 16,430 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,820 ▲30K 16,520 ▲30K
Trang sức 99.99 15,830 ▲30K 16,530 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 04/05/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18449 18725 19300
CAD 18845 19123 19741
CHF 33086 33472 34116
CNY 0 3816 3908
EUR 30277 30552 31578
GBP 35007 35401 36331
HKD 0 3232 3434
JPY 161 165 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15280 15864
SGD 20158 20441 20964
THB 728 791 844
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,367
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,449 30,473 31,745
JPY 163.7 164 172.88
GBP 35,242 35,337 36,340
AUD 18,678 18,745 19,349
CAD 19,078 19,139 19,730
CHF 33,393 33,497 34,286
SGD 20,321 20,384 21,066
CNY - 3,796 3,919
HKD 3,306 3,316 3,434
KRW 16.56 17.27 18.67
THB 774.46 784.03 834.57
NZD 15,252 15,394 15,757
SEK - 2,815 2,898
DKK - 4,075 4,194
NOK - 2,796 2,883
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,240.59 - 7,002.72
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,926.58 7,253.96
KWD - 83,960 88,817
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,147 26,367
EUR 30,310 30,432 31,615
GBP 35,144 35,285 36,298
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,118 33,251 34,195
JPY 163.85 164.51 171.99
AUD 18,625 18,700 19,297
SGD 20,329 20,411 20,996
THB 790 793 828
CAD 19,026 19,102 19,683
NZD 15,299 15,833
KRW 17.16 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26367
AUD 18627 18727 19649
CAD 19028 19128 20142
CHF 33316 33346 34929
CNY 3797.4 3822.4 3958.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30436 30466 32191
GBP 35275 35325 37088
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15365 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20298 20428 21156
THB 0 754.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16360000 16360000 16660000
SBJ 14000000 14000000 16660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,367
USD20 26,170 26,220 26,367
USD1 23,857 26,220 26,367
AUD 18,675 18,775 19,895
EUR 30,581 30,581 32,007
CAD 18,976 19,076 20,395
SGD 20,383 20,533 21,109
JPY 164.81 166.31 170.95
GBP 35,172 35,522 36,405
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,707 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/05/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80