HDBank đẩy mạnh chuyển đổi số, tiếp tục tăng trưởng cao và đồng hành cùng khách hàng

Hải Băng
Ngân hàng Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên 2021. Tại đại hội, toàn bộ các báo cáo và tờ trình của Hội đồng quản trị trong đó bao gồm cả tờ trình về phương án chia cổ tức 25% đã được cổ đông thông qua.
aa

Đại hội đồng cổ đông thường niên (ĐHCĐ) năm nay được HDBank tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Nhà hát TP. Hồ Chí Minh và theo hình thức trực tuyến với tỷ lệ cổ đông tham gia của 159 cổ đông, đại diện cho 18.000 cổ đông của ngân hàng.

Tăng trưởng tích cực giữa khó khăn vì đại dịch

Báo cáo của Hội đồng quản trị (HĐQT) tại đại hội cho biết, năm 2020, giữa những thách thức do dịch Covid–19, HDBank đã triển khai nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ cho khách hàng và cộng đồng vượt qua dịch bệnh, giúp hệ thống hoạt động thông suốt, ổn định, an toàn đồng thời kiên định với chiến lược phát triển bền vững và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Theo đó, năm 2020, HDBank ghi nhận các chỉ tiêu kinh doanh tích cực nhất từ trước tới nay. Tổng tài sản hợp nhất đạt 319.127 tỷ đồng, tăng 39,1% so với năm 2019 và hoàn thành 104,5% kế hoạch. Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư đạt 208.953 tỷ đồng, tăng 38,4% và hoàn thành 111% kế hoạch. Dư nợ tín dụng đạt 188.228 tỷ đồng, tăng 23% hoàn thành 105,8% kế hoạch. Các chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA) đạt lần lượt 20,6% và 1,7%. HDBank đã tăng vốn điều lệ từ 9.810 tỷ đồng lên hơn 16.088 tỷ đồng thông qua chia cổ tức và cổ phiếu thưởng với tổng tỷ lệ 65%, mức cao nhất toàn ngành. Lợi nhuận trước thuế đạt 5.818 tỷ đồng, tăng 15,9% và hoàn thành 102,8% kế hoạch năm 2020, trong đó nguồn thu từ mảng dịch vụ tăng gấp rưỡi so với cùng kỳ.

Tỷ lệ nợ xấu/cho vay khách hàng tại ngân hàng mẹ là 0,93%, thuộc nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất. Toàn bộ trái phiếu VAMC đã được tất toán trước thời hạn. Các chỉ tiêu an toàn của HDBank không ngừng được nâng cao. Trong đó, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ 24,8% so với quy định là 40%. Hệ số an toàn vốn CAR (theo Basel II) đạt tới 12,1% so với 8% theo quy định. HDBank là một trong số nhà băng đầu tiên hoàn thành sớm cả 3 trụ cột quản trị rủi ro theo chuẩn mực Basel II. Cơ quan xếp hạng tín nhiệm Moody’s mới đây tiếp tục dành cho HDBank mức xếp hạng B1 với triển vọng Ổn định.

HDBank
Cổ đông Petri Deryng tham dự Đại hội qua zoom.

Năm 2020 cũng ghi nhận những bước chuyển đổi số mạnh mẽ của HDBank trong các hoạt động kinh doanh và vận hành, tạo nền tảng vững chắc để tiến tới mục tiêu trở thành Ngân hàng số hàng đầu của Việt Nam.

Bên cạnh đó, HDBank cũng thực hiện tốt trách nhiệm với cộng đồng; thu nộp Ngân sách Nhà nước năm 2020 tăng 18% so với năm 2019; bảo đảm đầy đủ quyền lợi của cổ đông và người lao động. Với các nền tảng vững chắc, hiệu quả hoạt động vượt trội và đề cao trách nhiệm công khai, minh bạch theo những chuẩn mực quốc tế cao nhất, ngân hàng sẵn sàng hợp tác và đồng hành cùng cổ đông, nhà đầu tư cùng đạt được những thành tự mới, cùng sẻ chia lợi ích lớn.

Năm 2021, tiếp tục chuyển đổi số mạnh mẽ và tự động hóa các quy trình

Tại đại hội, các cổ đông của HDBank cũng đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2021 với các chỉ tiêu chính tăng trưởng tích cực. Theo đó, tổng tài sản đạt 399.320 tỷ đồng, tăng 25% so với 2020; huy động vốn đạt 359.851 tỷ đồng, tăng 25%; dư nợ tín dụng lên 236.768 tỷ đồng, tăng 26% so với 2020. HDBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 25% so với 2019, lên 7.281 tỷ đồng. Các hệ số khả năng sinh lời ROA và ROE sẽ tiếp tục được giữ mức cao, lần lượt 1,62% và 21,1%.

HDBank
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Phó Chủ tịch thường trực HĐQT trình bày Phương án phân phối lợi nhuận, kế hoạch chia cổ tức năm 2020 và Phương án tăng vốn điều lệ năm 2021.

HDBank xác định năm 2021 tiếp tục triển khai mạnh mẽ việc chuyển đổi số, tự động hoá các quy trình trọng yếu nhằm gia tăng những trải nghiệm tối ưu cho khách hàng, tiết giảm chi phí vận hành, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. HDBank ưu tiên phát triển mảng dịch vụ, trong đó, dư địa mảng bán bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) của HDBank còn lớn và nhiều đối tác bảo hiểm nhân thọ quốc tế đang mong muốn hợp tác độc quyền. Mảng thẻ tín dụng và các sản phẩm dịch vụ khác cũng có nhiều tiềm năng phát triển trong năm 2021 và các năm tiếp theo.

Đại hội cũng đã thông qua Tờ trình phương án phân phối lợi nhuận năm 2020 và chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 25% từ lợi nhuận chưa phân phối 2020 sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế đã kiểm toán và trích các quỹ theo quy định để tăng vốn điều lệ năm 2021.

Kết thúc quý I/2021, các chỉ số an toàn của HDBank được nâng cao. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt trên 2.100 tỷ, tăng 68% so với quý I/2020. Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng mẹ vượt 1.800 tỷ đồng, tăng 88% so với cùng kỳ năm trước, hứa hẹn một năm 2021 tiếp tục đạt và vượt các kế hoạch đặt ra./.

Hải Băng

Hải Băng

Đọc thêm

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ tối đa thêm gần 3.994,6 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 30.625 tỷ đồng. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh OCB lần đầu vượt mốc dư nợ cho vay 200.000 tỷ đồng và đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số dưới sự điều hành của quyền Tổng Giám đốc mới, chuyên gia về AI.
Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

(TBTCO) - Nhằm thúc đẩy nộp thuế điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 3/6/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp cùng Cục Thuế tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Đây là hoạt động trọng điểm nhằm hưởng ứng Ngày Tài chính số năm 2026 và hiện thực hóa Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
BAC A BANK tiếp tục phát hành trái phiếu ra công chúng - thu hút khách hàng tích lũy an toàn, sinh lời tối ưu

BAC A BANK tiếp tục phát hành trái phiếu ra công chúng - thu hút khách hàng tích lũy an toàn, sinh lời tối ưu

(TBTCO) - Nhằm đa dạng hóa kênh đầu tư và tối đa lợi ích tới khách hàng, từ ngày 8/6/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - đợt 4 với tổng giá trị chào bán 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

(TBTCO) - PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.
“Gạn đục khơi trong” tín dụng bất động sản, ngân hàng và doanh nghiệp nào hưởng lợi?

“Gạn đục khơi trong” tín dụng bất động sản, ngân hàng và doanh nghiệp nào hưởng lợi?

Chính sách tín dụng bất động sản mới của Ngân hàng Nhà nước được Chứng khoán Mirae Asset đánh giá là cách tiếp cận “gạn đục khơi trong”, khuyến khích đẩy vốn vào nhà ở xã hội và khu công nghiệp, trong khi vẫn kiểm soát bất động sản thương mại và đầu cơ.
UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng UOB tái khẳng định cam kết đồng hành cùng hành trình phát triển của Việt Nam, thông qua việc thúc đẩy thương mại xuyên biên giới, hỗ trợ dòng vốn FDI và giúp doanh nghiệp trong nước phát triển bền vững. Ngân hàng cũng lên kế hoạch xây dựng trụ sở mới tại TP. Hồ Chí Minh và nghiên cứu khả năng tham gia Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
Kim TT/AVPL 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 14,500 ▼50K 14,700 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,450 ▼50K 14,650 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,800 ▼100K 15,200 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,750 ▼100K 15,150 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,680 ▼100K 15,130 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 150,800 ▼2200K 153,800 ▼2200K
Hà Nội - PNJ 150,800 ▼2200K 153,800 ▼2200K
Đà Nẵng - PNJ 150,800 ▼2200K 153,800 ▼2200K
Miền Tây - PNJ 150,800 ▼2200K 153,800 ▼2200K
Tây Nguyên - PNJ 150,800 ▼2200K 153,800 ▼2200K
Đông Nam Bộ - PNJ 150,800 ▼2200K 153,800 ▼2200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
Miếng SJC Nghệ An 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
Miếng SJC Thái Bình 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,080 ▼220K 15,380 ▼220K
NL 99.90 14,050 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼150K
Trang sức 99.9 14,570 ▼220K 15,270 ▼220K
Trang sức 99.99 14,580 ▼220K 15,280 ▼220K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,508 ▲1355K 15,382 ▼220K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,508 ▲1355K 15,383 ▼220K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,506 ▼22K 1,536 ▼22K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,506 ▼22K 1,537 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,486 ▼22K 1,521 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 144,094 ▼2178K 150,594 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 105,336 ▼1651K 114,236 ▼1651K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 94,688 ▼1496K 103,588 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,404 ▼76978K 9,294 ▼84988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 79,933 ▼1283K 88,833 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 54,682 ▲54126K 63,582 ▲62937K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,508 ▲1355K 1,538 ▲1382K
Cập nhật: 05/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18222 18498 19079
CAD 18400 18677 19293
CHF 32701 33085 33734
CNY 0 3845 3937
EUR 29943 30216 31244
GBP 34540 34932 35876
HKD 0 3230 3432
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15128 15713
SGD 19945 20227 20751
THB 720 784 837
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,033 30,057 31,371
JPY 160.03 160.32 169.33
GBP 34,675 34,769 35,830
AUD 18,363 18,429 19,049
CAD 18,560 18,620 19,233
CHF 32,921 33,023 33,871
SGD 20,039 20,101 20,811
CNY - 3,810 3,940
HKD 3,291 3,301 3,427
KRW 15.68 16.35 17.73
THB 767.04 776.51 827.91
NZD 15,066 15,206 15,598
SEK - 2,754 2,841
DKK - 4,018 4,144
NOK - 2,765 2,852
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,105.09 - 6,867.22
TWD 753.13 - 908.27
SAR - 6,889.16 7,228.16
KWD - 83,426 88,422
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26404
AUD 18407 18507 19429
CAD 18585 18685 19696
CHF 32940 32970 34561
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30121 30151 31876
GBP 34828 34878 36647
HKD 0 3355 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15229 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20098 20228 20955
THB 0 749.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15140000 15140000 15440000
SBJ 13000000 13000000 15440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,157 26,207 26,404
USD20 26,157 26,207 26,404
USD1 26,157 26,207 26,404
AUD 18,455 18,555 19,700
EUR 30,276 30,315 31,683
CAD 18,531 18,631 19,939
SGD 20,177 20,327 20,891
JPY 161.59 163.09 167.62
GBP 34,744 35,094 36,250
XAU 15,138,000 0 15,442,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80