Mobile Money có thể sẽ "đụng độ" thanh toán trực tuyến qua ngân hàng

Chí Tín
(TBTCO) - Mobile Money không chỉ hướng đến khách hàng ở các vùng nông thôn không có mạng internet, một vài số liệu sau thời gian triển khai thực tế cho thấy thị trường thành phố cũng là một mảnh đất trù phú cho dịch vụ này. Theo đó, sự cạnh tranh giữa Mobile Money và dịch vụ thanh toán trực tuyến của các ngân hàng tại khu vực thành phố có thể sẽ vẫn diễn ra quyết liệt trong thời gian tới.
aa

Mobile Money đã có 1,1 triệu khách hàng

Theo số liệu từ Vụ Thanh toán thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến cuối tháng 3/2022, tổng số khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money là hơn 1,1 triệu khách hàng. Trong đó, số lượng khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là gần 660.000 khách hàng (chiếm hơn 60% tổng số khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ).

Đến cuối tháng 3/2022, tổng số khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money là hơn 1,1 triệu khách hàng.
Đến cuối tháng 3/2022, tổng số khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money là hơn 1,1 triệu khách hàng.

Về phát triển điểm kinh doanh, đến cuối tháng 3/2022, hơn 3.000 điểm kinh doanh được thiết lập. Trong đó, số lượng điểm kinh doanh thuộc vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là khoảng gần 900 điểm, chiếm khoảng 30% tổng số điểm kinh doanh được thiết lập. Tổng số đơn vị chấp nhận thanh toán được thiết lập đến cuối tháng 3/2022 là hơn 12.800 đơn vị chấp nhận thanh toán, trong đó chủ yếu là các đơn vị chấp nhận thanh toán cung ứng dịch vụ thiết yếu như điện, nước, giáo dục,… Đến cuối tháng 3/2022, tổng số lượng giao dịch đã đạt hơn 8,5 triệu giao dịch với tổng giá trị hơn 370 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, thời gian tới sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền Thông, Bộ Công an theo dõi, bám sát, đánh giá tình hình triển khai thí điểm dịch vụ Mobile Money; đồng thời hướng dẫn, giải đáp vướng mắc hoặc vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dịch vụ Mobile Money của doanh nghiệp thí điểm. Đây là những động thái cơ bản của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo việc triển khai dịch vụ Mobile Money được an toàn và hiệu quả, tăng được số người dùng đăng ký sử dụng dịch vụ cũng như tăng trưởng về khối lượng/giá trị giao dịch.

Về tính an toàn của Mobile Money ông Ngô Diên Hy- Phó Tổng giám đốc VNPT – một trong 3 đơn vị đã được cấp phép cung ứng dịch vụ Mobile Money cho biết, hệ thống của VNPT đã được trang bị đầy đủ tương đương như hệ thống “core banking” của khối ngân hàng tài chính và có khả năng truy vết các gian lận.

Có thể “đụng độ” dịch vụ thanh toán của ngân hàng

Đánh giá chung về tình hình triển khai Mobile Money, ông Lê Anh Dũng- Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, việc triển khai thí điểm dịch vụ Mobile Money đã đáp ứng nhu cầu thiết thực của người dân, nhất là nhóm người dân chưa có tài khoản ngân hàng hoặc chưa được tiếp cận đầy đủ dịch vụ ngân hàng (unbanked/underbanked), đã và đang đi vào cuộc sống.

Với đánh giá trên của đại diện Ngân hàng Nhà nước, việc xác lập địa bàn chính của Mobile Money được thể hiện khá rõ ràng là những khu vực vùng sâu vùng xa (nhất là những nơi còn chưa có mạng internet). Tuy nhiên, thực thế có thể cho thấy vẫn có khả năng có sự cạnh tranh không kém phần khốc liệt giữa Mobile Money với dịch thanh toán trực tuyến của các ngân hàng ở khu vực thành phố.

Cách thanh toán bằng Mobile Money

Hạn mức thanh toán: 10 triệu đồng/tháng/tài khoản cho tổng giao dịch.

Hình thức thanh toán trên Mobile Money: Thanh toán qua các ứng dụng do nhà mạng cung cấp; hoặc thanh toán qua tin nhắn SMS trên điện thoại.

Mobile Money chỉ áp dụng cho thanh toán các giao dịch nội địa, chưa được phép thực hiện các hình thức giao dịch quốc tế.

Cách nạp, rút tiền trên Mobile Money: Chủ thuê bao có thể nạp, rút tiền từ Mobile Money qua tài khoản ngân hàng, ví điện tử; hoặc đến các điểm giao dịch của nhà mạng để thực hiện nạp, rút tiền.

Nhìn lại số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong số 1,1 triệu khách hàng của Mobile Money vẫn có 440 khách hàng không phải ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Số lượng khách hàng này cũng chiếm tới 40% tổng số khách hàng đã sử dụng Mobile Money. Số lượng điểm kinh doanh không thuộc các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo cũng đang chiếm tới 70% tổng số điểm kinh doanh được thiết lập.

Diễn biến trên cho thấy, “địa bàn” của Mobile Money không phải chỉ ở các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo mà các nhà mạng hoàn toàn không có lý do gì bỏ qua khu vực thành phố. Trong khi đó, các nhà mạng được cung cấp dịch vụ là các tên tuổi lớn gồm MobiFone, Vinaphone, Viettel đều là những doanh nghiệp viễn thông có hệ thống dịch vụ mạnh cả ở các thành phố lớn.

Trong nội dung trao đổi mới đây của một đại diện doanh nghiệp viễn thông, công ty này cho biết tạo điều kiện cho mọi người dân ở khắp 63 tỉnh, thành phố từng bước được tiếp xúc với hình thức chi tiêu không tiền mặt. Công ty này có kế hoạch đưa vào hoạt động trên 100 điểm chợ 4.0 trên cả nước, cho phép người dân dễ dàng mua hàng bằng cách chuyển tiền/quét mã QR và phối hợp với hàng loạt trường hoc, bệnh viện… triển khai các cổng thanh toán hỗ trợ người dân đóng học phí, chi trả viện phí…

Với những động thái này, tham vọng của các hãng viễn thông trong việc “tung quân” vào thị trường thanh toán trực tuyến hoàn toàn không bỏ qua bất cứ địa bàn nào, đương nhiên bao gồm cả những địa bàn màu mỡ khu vực thành phố. Động thái này hàm chứa một cuộc chạy đua nảy lửa trong thời gian tới với giới ngân hàng trong chia sẻ thị phần dịch vụ thanh toán ở cả những địa bàn đông dân cư.

Chí Tín

Đọc thêm

Nhiều chỉ tiêu VietABank "về đích" sớm sau 9 tháng, ngân hàng đẩy mạnh xử lý nợ tồn đọng

Nhiều chỉ tiêu VietABank "về đích" sớm sau 9 tháng, ngân hàng đẩy mạnh xử lý nợ tồn đọng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, VietABank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.191,1 tỷ đồng, tăng 13,4%, nhờ thu nhập ngoài lãi tăng trưởng và chi phí dự phòng giảm mạnh sau khi xử lý các khoản nợ tồn đọng. Nhiều chỉ tiêu "về đích" sớm, trong đó tổng tài sản đạt 156.490 tỷ đồng, tăng 11,4% so với đầu năm; huy động vốn cũng vượt kế hoạch năm.
VAMC - SAMC lan tỏa kinh nghiệm xử lý nợ xấu, tăng cường hợp tác với Lào

VAMC - SAMC lan tỏa kinh nghiệm xử lý nợ xấu, tăng cường hợp tác với Lào

(TBTCO) - Từ ngày 26 - 28/10, tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) tổ chức chương trình trao đổi kinh nghiệm và đào tạo chuyên sâu về mua, quản lý và xử lý nợ xấu dành cho Công ty Quản lý nợ và tài sản Nhà nước Lào (SAMC).
NCB giữ vững đà tăng trưởng, vượt kế hoạch kinh doanh năm 2026 sau 9 tháng

NCB giữ vững đà tăng trưởng, vượt kế hoạch kinh doanh năm 2026 sau 9 tháng

(TBTCO) - Kết thúc 9 tháng năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) xác lập mức lợi nhuận sau thuế cao nhất trong lịch sử hoạt động, cho thấy những chuyển biến rõ nét về năng lực và hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn phát triển mới.
Doanh thu bảo hiểm nhân thọ vượt 100.000 tỷ đồng, bảo hiểm tử kỳ chiếm hơn 50% hợp đồng mới

Doanh thu bảo hiểm nhân thọ vượt 100.000 tỷ đồng, bảo hiểm tử kỳ chiếm hơn 50% hợp đồng mới

(TBTCO) - Sau 9 tháng năm 2026, thị trường bảo hiểm nhân thọ ghi nhận 1,14 triệu hợp đồng khai thác mới, tăng 4,3%; trong đó, bảo hiểm tử kỳ chiếm tỷ trọng áp đảo 50%, tăng 54% cùng kỳ. Tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 101.621 tỷ đồng, các doanh nghiệp tiếp tục đổi mới sản phẩm, đẩy mạnh số hóa dịch vụ.
Đẩy mạnh phát triển sản phẩm mới, phí bảo hiểm gốc DBV tăng hơn 70% sau 9 tháng

Đẩy mạnh phát triển sản phẩm mới, phí bảo hiểm gốc DBV tăng hơn 70% sau 9 tháng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, phí bảo hiểm gốc của DBV đạt 4.400 tỷ đồng, tăng 72,8%, giúp doanh nghiệp lọt top 6 thị phần bảo hiểm phi nhân thọ. Trong đó, bảo hiểm xe cơ giới chiếm 62%, tiếp tục dẫn đầu thị trường ở nghiệp vụ này. DBV đồng thời đẩy mạnh phát triển sản phẩm mới, mở rộng danh mục bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 28/10: Vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 28/10: Vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 44 USD/ounce, vượt 4.060 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn biến động khác nhau giữa các thương hiệu.
Thu ngoài lãi chiếm gần 50% quý III, SACOMBANK tăng mạnh dự phòng khi tổng tài sản vượt "triệu tỷ"

Thu ngoài lãi chiếm gần 50% quý III, SACOMBANK tăng mạnh dự phòng khi tổng tài sản vượt "triệu tỷ"

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng thu nhập hoạt động của SACOMBANK tăng 14,1%, với "điểm sáng" là thu nhập ngoài lãi tăng 238,1%, đóng góp gần 50% tổng thu nhập hoạt động riêng quý III. Trong bối cảnh tổng tài sản vượt ngưỡng triệu tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700.000 tỷ đồng, ngân hàng gấp gần 6 lần trích lập dự phòng nhằm củng cố chất lượng tài sản.
Tín dụng tăng 11,5% đưa tổng tài sản tiến sát đích, ACB chủ động gia cố bộ đệm dự phòng

Tín dụng tăng 11,5% đưa tổng tài sản tiến sát đích, ACB chủ động gia cố bộ đệm dự phòng

(TBTCO) - Trong 9 tháng 2026, ngân hàng ACB báo lãi trước thuế 16.614,4 tỷ đồng, tăng 3,4% cùng kỳ, hoàn thành 74% kế hoạch năm. Các nguồn thu cốt lõi tăng trưởng giúp ngân hàng tăng gần gấp đôi trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, duy trì tỷ lệ nợ xấu bao gồm CIC tại ACB hiện ở mức 1,18%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 141,000
Hà Nội - PNJ 137,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 137,000 141,000
Miền Tây - PNJ 137,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 137,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 14,150
Trang sức 99.9 13,430 14,030
Trang sức 99.99 13,440 14,040
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,140 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,355 1,395
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,355 1,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 29/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17665 17939 18518
CAD 17928 18203 18823
CHF 30536 30912 31550
CNY 0 3836 3931
EUR 28149 28365 29441
GBP 33582 33970 34913
HKD 0 3162 3364
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14200 14786
SGD 19633 19914 20481
THB 681 744 797
USD (1,2) 25574 0 0
USD (5,10,20) 25612 0 0
USD (50,100) 25639 25653 26017
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,645 25,645 26,025
USD(1-2-5) 24,620 - -
USD(10-20) 24,620 - -
EUR 28,199 28,222 29,561
JPY 159.17 159.46 169.11
GBP 33,776 33,867 35,040
AUD 17,851 17,915 18,596
CAD 18,110 18,168 18,842
CHF 30,799 30,895 31,808
SGD 19,750 19,811 20,589
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,226 3,236 3,372
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.35 738.36 790.64
NZD 14,183 14,315 14,744
SEK - 2,561 2,651
DKK - 3,783 3,917
NOK - 2,739 2,839
LAK - 0.87 1.22
MYR 5,944.47 - 6,710.29
TWD 716.41 - 868.02
SAR - 6,766.09 7,127.83
KWD - 81,551 86,785
AED - 6,779 7,306
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,196 28,338 29,566
GBP 33,760 33,930 34,963
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,623 30,777 31,722
JPY 158.80 160.40 168.36
AUD 17,845 17,971 18,570
SGD 19,718 19,897 20,493
THB 735 750 787
CAD 18,084 18,211 18,810
NZD 14,287 14,842
KRW 18.69 20.65
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26040
AUD 17845 17945 18867
CAD 18108 18208 19221
CHF 30744 30774 32348
CNY 3818 3843 3978.4
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28306 28336 30061
GBP 33872 33922 35680
HKD 0 3300 0
JPY 160.11 160.61 171.12
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14295 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19787 19917 20640
THB 0 709.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,544 25,664 25,960
USD20 25,514 25,664 25,960
USD1 25,494 25,664 25,960
AUD 17,785 17,935 18,812
EUR 28,108 28,208 29,685
CAD 18,057 18,157 19,463
SGD 19,867 20,017 20,573
JPY 160.6 162.1 167.66
GBP 33,775 33,925 35,237
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,798 0
THB 0 745 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30