Sẽ tăng quyền cho VAMC trong xử lý nợ xấu

Tú Anh
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 19/2013/TT-NHNN, với nhiều sửa đổi quan trọng nhằm giảm thủ tục và tăng quyền chủ động cho VAMC trong xử lý nợ xấu.
aa
Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro
Mô hình VAMC sẽ không thể kéo dài mãi Đề xuất mở rộng phạm vi, VAMC có thể mua nợ xấu của ngân hàng ngoại

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có bản tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của các đơn vị liên quan ngoài NHNN về hồ sơ xây dựng Thông tư thay thế Thông tư số 19/2013/TT-NHNN (Thông tư 19) và Thông tư số 33/2016/TT-NHNN về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Trao thêm quyền cho VAMC

Theo Ngân hàng Nhà nước, dự thảo Thông tư mới kế thừa và cập nhật các quy định hiện hành tại Thông tư 19, đã được sửa đổi, bổ sung qua nhiều lần để phù hợp với Nghị định mới thay thế Nghị định số 53/2013/NĐ-CP và Luật số 68/2025/QH15.

Sẽ tăng quyền cho VAMC trong xử lý nợ xấu
VAMC sẽ chủ động quyết định việc mua nợ. Ảnh tư liệu.
Một trong những điểm sửa đổi quan trọng là bãi bỏ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chấp thuận phương án mua nợ theo giá trị thị trường. Theo đó, VAMC sẽ chủ động quyết định việc mua nợ căn cứ năng lực tài chính, tình hình thực tế và kế hoạch kinh doanh, phù hợp với chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính và tăng tính tự chủ của doanh nghiệp nhà nước.

Dự thảo cũng chuẩn hóa thuật ngữ, thay cụm từ “tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bán nợ” bằng “tổ chức bán nợ”; thay cụm từ “phương án sản xuất, kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả” bằng “khả thi” để thống nhất với Nghị định mới.

Đồng thời, bổ sung quy định làm rõ khái niệm “trái phiếu đặc biệt” và sửa đổi tên gọi, chức năng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước cho phù hợp với cơ cấu tổ chức hiện tại (Cục Quản lý, giám sát các tổ chức tín dụng thay cho Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng).

Ngoài ra, dự thảo điều chỉnh thẩm quyền quyết định từ Chính phủ sang Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong một số nội dung, đồng thời loại bỏ cụm từ “theo đề nghị của Công ty Quản lý tài sản” để phản ánh đúng quy trình xử lý nợ xấu đối với các tổ chức tín dụng yếu kém do Ngân hàng Nhà nước xem xét, chỉ đạo.

Các quy định chi tiết khác liên quan đến việc phát hành trái phiếu đặc biệt, mua bán nợ theo giá trị thị trường, phạm vi và đối tượng áp dụng cũng được rà soát, sửa đổi để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành...

Không nới quy định chia cổ tức khi nắm trái phiếu đặc biệt trên 5 năm

Nhiều nội dung được Ngân hàng Nhà nước tiếp thu và chỉnh sửa trong dự thảo Thông tư. Đơn cử, trong văn bản góp ý gửi đến Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Hợp tác xã (Co-opBank) kiến nghị, Co-op Bank và quỹ tín dụng nhân dân có cơ chế quy định riêng về giá trị khoản nợ xấu bán cho VAMC do tính đặc thù tổ chức tín dụng là hợp tác xã. Theo đó, giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu hoặc các khoản nợ xấu của một khách hàng vay hoặc các khoản nợ xấu của một nhóm khách hàng vay không thấp hơn 1 tỷ đồng với nhóm khách hàng vay và khách hàng vay là tổ chức; không thấp hơn 500 triệu đồng với khách hàng vay là cá nhân.

"Ngân hàng Hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu cho vay đối với các khách hàng, nhóm khách hàng có giá trị nhỏ" - Co-opBank lý giải.

Tiếp thu đề nghị này, cơ quan soạn thảo bổ sung một khoản quy định đối với khoản nợ của Ngân hàng Hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân.

Góp ý đối với quy định tại Điều 39 về xử lý và bán tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua, ABBank kiến nghị, ngoài các các nội dung đề cập trong dự thảo, VAMC cần trao đổi trước với tổ chức tín dụng bán nợ về các nội dung khác liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, như: lựa chọn tổ chức định giá, lựa chọn tổ chức khác bán đấu giá, giảm giá bán, quyết định bán đấu giá trong trường hợp chỉ có 1 người tham gia đấu giá, giá trị nhận cấn trừ nợ... Tuy nhiên, trường hợp hai bên không thống nhất quan điểm thì xử lý như thế nào, ABBank đặt vấn đề.

Tiếp thu nội dung này, Ngân hàng Nhà nước làm rõ thêm, trường hợp tổ chức tín dụng có văn bản không thống nhất với VAMC, thì VAMC phải trao đổi lại cho đến khi thống nhất hoặc không thực hiện xử lý tài sản. Về nguyên tắc, VAMC phải trao đổi với tổ chức tín dụng bán nợ, trường hợp tổ chức tín dụng không thống nhất hoặc không trả lời sau thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày VAMC có văn bản, VAMC quyết định và chịu trách nhiệm về việc xử lý tài sản bảo đảm.

Bên cạnh các nội dung được tiếp thu, cũng có nhiều đề nghị không được chấp thuận do không phù hợp với các quy định pháp lý, hoặc gây rủi ro cho hệ thống tài chính.

Đơn cử, tại điểm e khoản 4 Điều 59 Dự thảo Thông tư quy định: “Tổ chức tín dụng Việt Nam bán nợ nhận trái phiếu đặc biệt có thời hạn trên 5 năm hoặc tổ chức tín dụng Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc gia hạn thời hạn trái phiếu đặc biệt không được chia cổ tức để tạo nguồn xử lý nợ xấu cho đến khi trái phiếu đặc biệt có thời hạn trên 5 năm hoặc trái phiếu đặc biệt đã gia hạn được thanh toán”.

Góp ý về quy định này, Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Điện lực (EVF), Hiệp hội Ngân hàng và VPBank cùng cho rằng, nguồn xử lý nợ xấu đối với các khoản nợ đã bán cho công ty quản lý tài sản phụ thuộc vào kết quả thu nợ và kết quả trích lập dự phòng trái phiếu đặc biệt tương ứng.

Theo quy định tại Điều 52 dự thảo, kỳ hạn trái phiếu là một trong các cơ sở nhằm xác định mức trích lập dự phòng tối thiểu. Vì vậy, trong trường hợp tổ chức tín dụng chủ động trích lập dự phòng cao hơn mức tối thiểu, thì giá trị đã trích lập dự phòng lũy kế lớn hơn hoặc bằng mức trích của trái phiếu đặc biệt đó khi tính theo kỳ hạn 5 năm đã đảm bảo tính thận trọng để xem xét cho phép tổ chức tín dụng được chia cổ tức.

Không tiếp thu góp ý trên, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, chỉ có tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án cơ cấu lại hoặc gặp khó khăn về tài chính, không đủ khả năng tài chính trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho khoản nợ xấu trong vòng 5 năm mới được Ngân hàng Nhà nước xem xét chấp thuận việc bán nợ xấu cho VAMC bằng trái phiếu đặc biệt có thời hạn trên 5 năm.

"Khi tổ chức tín dụng trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho khoản nợ xấu đã bán cho VAMC, thì trái phiếu đặc biệt đã đến hạn thanh toán theo quy định tại Điều 46 (nay là Điều 47) của dự thảo Thông tư" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ./.

Tú Anh

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80