Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15/11/1923, mất ngày 10/7/1995. Ông quê gốc ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nhưng lớn lên ở thành phố cảng Hải Phòng (ghi theo địa danh cũ). Ông được nhiều người xem là một hình mẫu thiên tài trong lịch sử văn nghệ Việt Nam.
Thuộc thế hệ nhạc sĩ Tân nhạc tiên phong, Văn Cao tham gia nhóm Đồng Vọng, sáng tác các ca khúc trữ tình lãng mạn, đáng chú ý nhất là “Bến xuân”, “Suối mơ”, “Thiên thai” và “Trương Chi”. Ông nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt nổi bật nhất của trào lưu lãng mạn trong âm nhạc Việt Nam, để lại những dấu ấn mang tính khai phá của ông trong tân nhạc Việt. Sau khi theo cách mạng, Văn Cao chủ yếu viết nhiều ca khúc mang âm hưởng hào hùng như “Tiến quân ca”, “Trường ca sông Lô”, “Tiến về Hà Nội”... Ông đã trở thành một nhạc sỹ tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến.
![]() |
Ảnh tư liệu |
Phải nói rằng Văn Cao viết nhạc thể loại trữ tình đã đạt đỉnh cao cả về âm nhạc và lời ca. Và sự giác ngộ theo Đảng, theo Cách mạng đã làm nên bước ngoặt của cuộc đời ông, để tiếp sau những bản tình ca là hàng loạt những bản hùng ca để đời, làm nên một tượng đài nghệ thuật Văn Cao để bao người ngưỡng mộ.
Sau khi theo cách mạng, Văn Cao chủ yếu viết nhiều ca khúc mang âm hưởng hào hùng như “Tiến quân ca”, “Trường ca sông Lô”, “Tiến về Hà Nội”... Ông đã trở thành một nhạc sỹ tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến. |
Câu chuyện Văn Cao sáng tác Quốc ca, đã được họa sĩ, nhà thơ Văn Thao - con trai cả của nhạc sĩ Văn Cao - chia sẻ một số lần trong các hội thảo và đêm nhạc tưởng nhớ về cha của ông.
Ông Văn Thao kể, bài “Tiến quân ca” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác năm 1944. Khi đó, nhạc sĩ được tổ chức giao sáng tác một bài hát cho quân đội cách mạng. Giữa những ngày tháng 10 trời bắt đầu giá lạnh về đêm, trong tiếng xe bò đêm đêm chở xác người chết đói ra khỏi Hà Nội trong nạn đói lịch sử mà quân Nhật, Pháp gây ra cho dân tộc Việt Nam, nhạc sĩ đã viết nên “Tiến quân ca”.
Theo ông Văn Thao, bài hát ra đời trong hoàn cảnh đó nên trong phần lời có những câu mà sau này mọi người có thể đánh giá là quá dữ dội như: "Thề phanh thây uống máu quân thù" mà sau này được đổi thành "Đường vinh quang xây xác quân thù”.
Chuyện chọn bài hát làm Quốc ca, cũng theo lời ông Văn Thao được cha kể lại, rằng ngày 16/8/1945, tại Đại hội Quốc dân đồng bào họp ở Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) để bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Bác Hồ chọn Quốc ca, Quốc kỳ cho nước Việt Nam độc lập đang đến rất gần.
![]() |
Nhạc sỹ Văn Cao. Ảnh tư liệu |
Trước đó, ông Nguyễn Đình Thi được giao nhiệm vụ tham khảo ý kiến một số đại biểu để chọn các ca khúc cách mạng tiêu biểu gửi lên cho Bác chọn Quốc ca.
Đúng sáng 16/8/1945, Nguyễn Đình Thi trực tiếp thể hiện ba bài hát bằng kèn harmonica gồm bài “Tiến quân ca” và “Chiến sĩ Việt Minh” (sau đổi thành Chiến sĩ Việt Nam của Văn Cao), bài “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi. Nghe xong, Bác có ý kiến bài Diệt phát xít rất ý nghĩa, nhưng chủ nghĩa phát xít đã tan rã rồi nên chọn bài này làm Quốc ca không hợp nữa.
Bài Chiến sĩ Việt Minh bác rất thích, đặc biệt là đoạn cuối với những câu hát: "Thề phục quốc tiến lên Việt Nam/Lập quyền dân, tiến lên Việt Nam...". Nhưng bài này khó hát nên khó phổ biến rộng rãi, lại hơi dài. Theo Bác, bài “Tiến quân ca” là hợp lý nhất, vừa ngắn gọn, dân dễ hát dễ thuộc, vừa như lời hiệu triệu mạnh mẽ.
Chiều hôm đó, đại hội chọn Quốc kỳ là lá cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa, chọn Tiến quân ca là Quốc ca và phát lệnh Tổng khởi nghĩa tháng Tám.
Ngay hôm sau, ngày 17/8/1945, có cuộc biểu tình ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim ở Nhà hát Lớn Hà Nội, Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ cho đội biệt động của nhạc sĩ Văn Cao phá cuộc biểu tình đó.
Tiểu đội của ông Văn Cao lúc đó là Đội danh dự Việt Minh. Ông đã giao nhiệm vụ cho đồng chí của mình lên hạ lá cờ Nhật hoàng trên ban công Nhà hát Lớn rồi xuống cướp micro của một người trong chính phủ Trần Trọng Kim đang diễn thuyết để hát vang bài “Tiến quân ca”.
Lúc đó, hàng nghìn người hôm đó không hiểu sao đều đã thuộc và hát vang bài “Tiến quân ca”.
Sau này, nhạc sĩ Văn Cao đã viết trong hồi ký về giây phút khiến ông xúc động trào nước mắt: "Tôi hiểu rằng từ giờ phút này trở đi bản “Tiến quân ca” đã thuộc về nhân dân, trước cả khi nó được công nhận là Quốc ca Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào năm 1946”. (Quốc hội khóa I đã ghi trong Hiến pháp năm 1946 chọn bài này làm Quốc ca của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa).
Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, lời ca đầu tiên của Tiến quân ca vẫn sử dụng, cho tới Quốc hội khóa II năm 1960 thì thay đổi một số chỗ cho phù hợp hơn.
Đến năm 1981, kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa VI đã quyết định tổ chức cuộc vận động sáng tác Quốc ca mới. Cuộc thi nhận được gần 1.500 bài hát gửi về. 17 bài hát được chọn vào vòng 3 được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong các cơ quan, tổ chức và nhân dân, nhưng kết quả cho tới năm 1982, vẫn không chọn được bài hát nào để làm quốc ca mới thay thế cho Tiến quân ca.
Văn Cao “một mình ôm mấy vùng ánh sáng” Nhạc sĩ Văn Cao không chỉ là một tài năng vượt trội về âm nhạc mà là một người nghệ sĩ đa tài, cả trong văn thơ, hội họa. Nói về ông, trong hồi ký Phạm Duy, người nhạc sĩ tài hoa này dành nhiều trang ngợi ca hết lời âm nhạc Văn Cao. Phạm Duy không ngần ngại nói "Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Âm nhạc ông là những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu". Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì gọi Văn Cao là "ông hoàng" bởi sự sang trọng trong âm nhạc, bởi chất thần tiên bay bổng, so với mình là "một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi" trên cánh đồng ca khúc. Còn họa sĩ Tạ Tỵ thì "Văn Cao là một nghệ sĩ trên nghệ sĩ. Một mình ôm mấy vùng ánh sáng". |