Phác họa lợi nhuận ngân hàng quý III

Chí Tín
(TBTCVN) - Sau các con số tăng tốc lợi nhuận ấn tượng trong quý II/2021, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự chững lại về tăng trưởng trong quý III, với nhiều lý do khác nhau.
aa

nh

Nền so sánh thấp không còn

Quý II/2021 vừa đi qua có thể coi là một giai đoạn ngọt ngào của giới ngân hàng khi hầu hết các ngân hàng đều có sự tăng trưởng khá cao cả về doanh thu và lợi nhuận. Tăng trưởng lợi nhuận bình quân của các ngân hàng trong quý II và 6 tháng đầu năm đạt tới vài chục phần trăm, cá biệt có trường hợp tăng trưởng lợi nhuận gấp vài lần so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ tăng trưởng “hoành tráng” của các ngân hàng trong quý II tuy có phần đến từ bản thân các ngân hàng đã chủ động tiết giảm chi phí, giúp gia tăng lợi nhuận, nhưng một phần cũng xuất phát từ nền so sánh thấp của quý II/2020.

Năm 2020, thời điểm giãn cách xã hội để phòng tránh dịch Covid-19 diễn ra vào tháng 4 (quý II) và theo đó quý II cũng chính là giai đoạn “trũng” nhất của tăng trưởng kinh tế cả năm 2020. Năm 2020, tăng trưởng GDP cả nước đạt 2,91%, trong đó, tăng trưởng quý II/2020 chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 0,39%, thấp hơn hẳn so với các quý khác (quý I tăng 3,68%; quý III tăng 2,69%; quý IV tăng 4,48%).

Trong khi đó, bối cảnh kinh tế năm 2021 lại diễn ra trong một trạng thái khác, dịch bệnh tuy vẫn tiếp tục diễn biến dai dẳng. Đợt dịch lần thứ tư bùng phát từ cuối tháng 4, nhưng việc tăng cường mạnh mẽ giãn cách theo Chỉ thị 16 trên diện rộng chỉ bắt đầu từ tháng 7, khi đó đã chuyển sang quý III. Theo đó, những ảnh hưởng về kinh tế do phải giãn cách không thể hiện trong các số liệu quý II/2021, nhưng sẽ có những tác động đáng kể vào quý III/2021.

Chuyện của riêng ngành ngân hàng

Ngoài yếu tố chịu những ảnh hưởng chung của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng còn có một số tính chất riêng, được dự báo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng kể từ quý III/2021.

Một trong những ảnh hưởng trước tiên có thể kể đến là đợt giảm lãi suất từ tháng 7/2021. Đầu tháng 7/2021, Ngân hàng Nhà nước có cuộc họp trực tuyến và giao Hiệp hội Ngân hàng vận động các tổ chức tín dụng thực hiện giảm lãi suất với những mức cụ thể ngay trong tháng 7/2021. Hiệp hội Ngân hàng cũng đã họp với các thành viên và nhận được sự đồng thuận về việc giảm lãi suất và sau đó một loạt các ngân hàng đã có thông báo giảm lãi suất để hỗ trợ các doanh nghiệp gặp khó khăn do Covid-19. Mỗi ngân hàng có một chính sách riêng, nhưng mức giảm bình quân trong đợt giảm lãi suất tháng 7 vào khoảng 1%.

Sau khi các ngân hàng công bố giảm lãi suất trong tháng 7, một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đưa con số ước tính, nếu giảm 1% lãi suất trên tổng dư nợ hiện hữu (khoảng 9,6 triệu tỷ đồng), thì con số lợi nhuận ngân hàng có thể bị ảnh hưởng là 96 nghìn tỷ đồng. Con số này tương đương với 50% tổng lợi nhuận của toàn ngành năm 2020.

Nếu tính toán này đúng, đây có thể coi là sự sụt giảm lợi nhuận khá “nặng ký” đối với ngành Ngân hàng trong quý III và nửa cuối năm 2021, nhưng cách tính toán trên không hẳn được các chuyên gia tài chính khác đồng tình. Với góc nhìn khác, ông Phan Lê Thành Long - Giám đốc Viện Kế toán quản trị công chứng Australia tại Việt Nam cho biết, việc tính toán như trên có thể chưa chính xác và cần phải đi vào phân tích chi tiết hơn. Bởi lẽ, đa phần các ngân hàng chỉ công bố việc giảm lãi suất cho các khách hàng bị ảnh hưởng của Covid-19, theo đó, việc giảm lãi suất chỉ dành cho một số đối tượng, chứ không phải trên toàn bộ dư nợ.

Tuy nhiên, nhìn nhận trên một bình diện tổng quát, mặc dù mỗi người có thể có những cách tính toán khác nhau nhưng tựu chung lại, giới chuyên môn đều thừa nhận sẽ có ảnh hưởng từ việc giảm lãi suất làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng. Chỉ có điều, con số cụ thể ra sao có thể chưa tính toán được một cách chính xác hoàn toàn.

Đó là về mặt thị trường, còn về mặt chính sách, thời gian gần đây giới tài chính vẫn có nhiều quan tâm đến tác động của Thông tư 03/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về sửa đổi một số điều của Thông tư 01/2020/TT-NHNN quy định về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Ông Đinh Trọng Thịnh - Phó trưởng Bộ môn Tài chính quốc tế, Học viện Tài chính, cho biết, Thông tư 03 có một số thay đổi điều chỉnh so với Thông tư 01, trong đó một trong những điểm đáng chú ý là các ngân hàng phải thực hiện trích lập dự phòng bổ sung trong một số trường hợp giãn nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19. Với tính chất này, các ngân hàng nếu tuân thủ đúng các quy định về trích lập dự phòng dự phòng theo Thông tư 03, lợi nhuận ngân hàng trên sổ sách sẽ bị giảm đi so với việc thực hiện theo quy định cũ tại Thông tư 01.

Về thời điểm ảnh hưởng của Thông tư 03, văn bản này đã ban hành từ tháng 4, nhưng ảnh hưởng của nó trong quý II vẫn chưa rõ ràng do đến nửa cuối tháng 5, văn bản này mới chính thức có hiệu lực. Theo đó, sự ảnh hưởng của các quy định mới tại Thông tư 03 có thể có một phần trong quý II nhưng chưa nhiều, và sự ảnh hưởng sẽ được thể hiện rõ nét hơn từ quý III/2021 trở đi.

Giai đoạn quý III sẽ có sự đảo ngược


Hoạt động ngân hàng cũng gắn liền với bối cảnh chung của nền kinh tế. Trong khi đó, cục diện kinh tế giữa 2 thời điểm của 2 năm (quý II và quý III) cũng đã có sự thay đổi theo chiều hướng ngược chiều nhau. Quý II/2021 là thời điểm kinh tế vẫn duy trì ổn định, nên nếu so các chỉ tiêu kinh tế của các doanh nghiệp (bao gồm cả các ngân hàng) với quý II/2020 (là thời điểm giãn cách) sẽ dễ nhìn thấy sự tăng tốc vượt trội của năm nay so với năm trước. Tuy nhiên, giai đoạn quý III sẽ có sự đảo ngược, khi quý III/2021 là thời điểm các hoạt động kinh doanh bị chững lại do giãn cách, trong khi cùng kỳ năm trước (quý III/2020) lại là thời điểm kinh tế đang phục hồi.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18006 18280 18856
CAD 18045 18320 18939
CHF 30891 31268 31915
CNY 0 3842 3938
EUR 29219 29439 30519
GBP 33950 34340 35278
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14562 15149
SGD 19817 20099 20679
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 19/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30