Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lý giải việc SJC là thương hiệu độc quyền vàng miếng quốc gia

Hoàng Yến
(TBTCO) - Tại phiên chất vấn sáng 9/6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng tiếp tục giải thích vì sao chọn SJC là thương hiệu vàng miếng quốc gia. Theo Thống đốc, nếu chọn làm thương hiệu mới thì sẽ mất nhiều chi phí, nên sau khi cân nhắc NHNN chọn SJC, vì đó là thương hiệu được người dân ưa chuộng.
aa
Giá vàng hôm nay 8/6: Vàng thế giới quay đầu tăng mạnh Thống đốc Nguyễn Thị Hồng: Cấp hạn mức tín dụng là biện pháp điều hành hiệu quả Thống đốc Ngân hàng Nhà nước làm rõ về tiền ảo, tiền điện tử, tiền kỹ thuật số

Giá vàng SJC cao: Mua cao thì bán cao

Trước đó, cuối phiên chất vấn ngày 8/6, đại biểu Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội) cho rằng, thị trường vàng có rất nhiều điểm bất ổn, bất hợp lý, đặc biệt là chênh lệch quá cao về giá vàng tại Việt Nam với giá vàng thế giới, có lúc lên đến trên 20 triệu đồng một lượng và sự chênh lệch quá khác biệt giữa giá vàng miếng SJC với giá vàng miếng của các thương hiệu khác, gây tâm lý lo lắng, bất an cho người dân.

Với tình trạng trên, đại biểu đặt câu hỏi NHNN đã tiến hành thanh tra, kiểm tra về giá khi giá vàng miếng biến động bất thường hay chưa? Liệu có sự bắt tay, thao túng về giá vàng miếng SJC trên thị trường hiện nay hay không? Đến thời điểm nào thì NHNN sẽ đề xuất Chính phủ sửa đổi Nghị định 24 năm 2012 để có thể xử lý một cách căn cơ các vấn đề bất cập của hoạt động kinh doanh vàng thời gian qua.

Trả lời vấn đề này, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, vừa qua giá vàng trên thị trường quốc tế diễn biến rất phức tạp, khó lường. Giá vàng chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố, như đồng USD, xung đột giữa Ukraine và Nga, cùng một loạt các sự kiện về thương mại, về chính trị khác. Ở trong nước, giá vàng có cùng xu hướng với giá vàng của thế giới, nhưng tốc độ điều chỉnh tăng của giá vàng trong nước nhanh hơn và tốc độ điều chỉnh giá vàng xuống thì lại chậm hơn giá vàng của thế giới. Qua theo dõi, đánh giá, phân tích, NHNN nhận thấy rằng giá vàng của các nhãn thương hiệu khác ngoài SJC về cơ bản, chênh lệch so với quốc tế khoảng 2 triệu đồng/lượng, nhưng riêng vàng SJC tăng ở mức lớn, khoảng 16 - 17 triệu đồng trên một lượng. Theo NHNN, vấn đề là do một số nguyên nhân.

Thứ nhất, thực hiện chủ trương chống vàng hóa trong nền kinh tế, từ năm 2012, thực hiện Nghị định số 24 và đặc biệt là từ năm 2014 trở lại đây, NHNN không nhập vàng về để sản xuất vàng miếng. Như vậy, nguồn cung vàng miếng trong nước đã bị giảm đi, bởi vì có thể một phần vàng đó được chuyển sang sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.

Thứ hai, với biến động của giá vàng thế giới như vậy, bản thân các doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng cũng rất lo ngại về rủi ro nên thường niêm yết giá rất cao. Với SJC, đây là một thương hiệu vàng được người dân ưa chuộng hơn cả nên họ niêm yết giá cao, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng giải thích.

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng

Theo Thống đốc, giá vàng mua và giá vàng bán ra của các tổ chức về cơ bản là chênh nhau khoảng 1 triệu hoặc 1,5 triệu đồng một lượng. Đối với SJC mua cao thì bán cao và các thương hiệu vàng khác mua thấp lại bán thấp.

Với vai trò quản lý nhà nước về vấn đề này, NHNN đã chuẩn bị sẵn sàng các phương án để can thiệp nếu cần thiết. Tuy nhiên, Thống đốc cho biết trong thời gian qua, tổng hợp số liệu của các tổ chức kinh doanh vàng cho thấy, người dân cũng không có nhu cầu mua vàng miếng nhiều. “Chúng tôi thấy số liệu là bán ròng, có nghĩa khi giá càng cao thì nhiều người dân mang đi bán để lấy Việt Nam đồng” - Thống đốc cho hay.

Hiện tại, NHNN đã xây dựng phương án, trong trường hợp cần thiết thì sẽ nhập khẩu vàng về để can thiệp vào thị trường. Khi nhập khẩu vàng thì sẽ sử dụng dự trữ ngoại hối nhà nước. Tuy nhiên, với nhu cầu thị trường hiện nay thì NHNN chưa triển khai giải pháp này, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho hay.

Sẽ lấy ý kiến về việc lựa chọn nhiều thương hiệu vàng miếng quốc gia

Tranh luận lại về nội dung này, đại biểu Nguyễn Phương Thủy đánh giá rất cao việc điều hành thị trường vàng, quản lý các hoạt động kinh doanh vàng để tránh việc vàng hóa trong thời gian qua. Tuy nhiên, đại biểu đặt câu hỏi việc độc quyền một thương hiệu vàng quốc gia là SJC có phải là một trong những nguyên nhân dẫn đến giá vàng miếng SJC tăng cao như hiện nay hay không? Mức chênh lệch đến hơn 15 triệu đồng/lượng theo đại biểu là quá lớn, đại biểu đề nghị Thống đốc giải đáp cụ thể hơn về nội dung này.

Tiếp tục trả lời tại phiên chất vấn sáng 9/6, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng giải thích theo Nghị định 24 năm 2012, NHNN được độc quyền sản xuất vàng miếng và khi đánh giá tình hình nên sản xuất một thương hiệu vàng miếng riêng, mới hay chọn loại vàng của thương hiệu đã có sẵn trên thị trường. "Nếu chọn làm một thương hiệu vàng quốc gia mới thì xã hội có thể mất nhiều chi phí. Sau khi cân nhắc các mặt lợi ích, chi phí, NHNN chọn SJC là thương hiệu vàng miếng quốc gia, loại chiếm hơn 90% thị phần ở thời điểm đó" - Thống đốc cho biết.

Cũng theo Thống đốc, từ năm 2014 đến nay giá vàng biến động khó lường, nên doanh nghiệp để giá cao do lo sợ rủi ro. SJC mua cao thì bán cao, nên người dân chọn mua thương hiệu này thì khi mua cao, bán sẽ được giá. Còn mua thương hiệu khác thì mua thấp, bán thấp, Thống đốc nói thêm.

Đối với việc có sửa Nghị định 24 hay không, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng chúng ta đã mất nhiều công sức để có được sự ổn định thị trường, giờ để cho các thương hiệu khác sản xuất vàng miếng thì cần đánh giá kỹ lưỡng. Vì thế, nếu sửa Nghị định 24, sẽ xin ý kiến các bộ, ngành liên quan.

Chưa hài lòng về trả lời của Thống đốc, đại biểu Phạm Văn Hoà (Đồng Tháp) tranh luận cho rằng, khi Nghị định 24 có hiệu lực cách đây 10 năm, giá vàng thế giới trên dưới 1.600 USD/ounce, giá vàng trong nước cũng chỉ 30 triệu đồng. Nhưng giờ giá trong nước đã lên tới 70 triệu đồng/lượng. "Tại sao không sửa nghị định này? Có nên để SJC độc quyền hay không, hay ngân hàng giao đơn vị, tổ chức làm một thương hiệu vàng khác để giảm sự độc quyền của SJC, thị trường vàng hạ xuống? Giá vàng cứ tăng thế này thì lạm phát sẽ tăng, tiền đồng mất giá" - đại biểu lo ngại.

Trả lời đại biểu, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nhắc lại quy định tại Nghị định 24, là cho phép NHNN được độc quyền vàng miếng và NHNN thuê SJC sản xuất thương hiệu vàng miếng quốc gia. Tới đây trong quá trình tổng kết, đánh giá để sửa Nghị định 24, NHNN sẽ lấy ý kiến rộng rãi, lắng nghe xem có nên lựa chọn nhiều thương hiệu vàng miếng khác hay không.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn với mức điều chỉnh lên tới gần 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về quanh ngưỡng 149 - 153 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/6: Giá vàng tiếp tục giảm về quanh 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 3/6: Giá vàng tiếp tục giảm về quanh 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt mất 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giá giao dịch lùi về quanh 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 13,830
Kim TT/AVPL 13,430 13,830
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 13,830
Nguyên Liệu 99.99 13,350 13,550
Nguyên Liệu 99.9 13,300 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 13,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 13,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 13,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 138,800
Hà Nội - PNJ 133,800 138,800
Đà Nẵng - PNJ 133,800 138,800
Miền Tây - PNJ 133,800 138,800
Tây Nguyên - PNJ 133,800 138,800
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 138,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 13,830
Miếng SJC Nghệ An 13,330 13,830
Miếng SJC Thái Bình 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 13,830
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,020 13,720
Trang sức 99.99 13,030 13,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 13,832
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 13,833
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 1,382
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 1,383
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 1,367
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 135,347
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 102,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 93,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 83,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 79,854
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 5,716
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cập nhật: 11/06/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80