Chi trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ: Minh bạch, nhanh chóng, vững niềm tin

Hồng Chi
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, không chỉ qua doanh thu hay sản phẩm mới, mà bằng thước đo quan trọng nhất: chi trả quyền lợi cho khách hàng. Đặc biệt, các doanh nghiệp đã nỗ lực số hóa quy trình chi trả quyền lợi bảo hiểm đảm bảo nhanh nhất, minh bạch nhất, khẳng định năng lực tài chính vững vàng cùng nỗ lực phục vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
aa

Chi trả quyền lợi bảo hiểm nhanh chóng, minh bạch

Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 9 tháng năm 2025, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm (bao gồm cả lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ) đạt khoảng 67.400 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ. Đây là con số ấn tượng trong bối cảnh toàn thị trường đang nỗ lực củng cố niềm tin sau giai đoạn khó khăn vừa qua.

Số liệu từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho thấy, 6 tháng đầu năm 2025, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã chi trả 27.468 tỷ đồng và đến giữa tháng 7/2025, con số này xấp xỉ 29.000 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ. Dòng tiền chi trả ổn định phản ánh năng lực tài chính vững vàng của doanh nghiệp, đồng thời khẳng định cam kết bảo vệ và đồng hành cùng khách hàng trong mọi giai đoạn khó khăn của cuộc sống.

Chi trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ: Minh bạch, nhanh chóng, vững niềm tin
Ứng dụng AIA+ giúp khách hàng dễ dàng quản lý hợp đồng bảo hiểm, theo dõi quyền lợi và cập nhật thông tin nhanh chóng. Ảnh: T.L

Báo cáo số liệu từ các doanh nghiệp bảo hiểm cũng phản ánh rõ những nỗ lực trong việc đẩy nhanh công tác chi trả quyền lợi bảo hiểm. Điển hình như AIA Việt Nam, đến hết tháng 9 năm 2025, doanh nghiệp này đã chi trả tổng cộng hơn 16.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho hơn 1,6 triệu trường hợp.

Đại diện Prudential Việt Nam cho biết, nửa đầu năm 2025, Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và các quyền lợi bảo hiểm khác đạt 7.410 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ. Việc chi trả bồi thường và các quyền lợi bảo hiểm ở mức cao thể hiện cam kết đồng hành cùng khách hàng và uy tín bền vững của Prudential.

Trong 9 tháng năm 2025, Dai-ichi Life Việt Nam đã chi trả quyền lợi bảo hiểm hơn 4.236 tỷ đồng, nâng tổng số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm lên hơn 28.490 tỷ đồng trong gần 18 năm qua. Tổng trích lập dự phòng nghiệp vụ gần 57.000 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tương tự, Manulife Việt Nam đã chi trả gần 4.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong nửa đầu năm 2025. Mới đây nhất, trong vụ tai nạn chìm tàu tại Hạ Long, Manulife Việt Nam đã nhanh chóng có quyết định chi trả hơn 9,2 tỷ đồng cho gia đình của 6 khách hàng không may mắn.

Những con số này không chỉ phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp, mà còn thể hiện tinh thần chuyển hóa lời hứa thành hành động, mang lại giá trị thực cho khách hàng, góp phần đồng hành cùng khách hàng vượt qua những giai đoạn khó khăn của cuộc sống.

Đẩy mạnh số hóa, củng cố niềm tin khách hàng

Theo đại diện cơ quan quản lý về bảo hiểm, việc thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý hồ sơ chi trả bồi thường bảo hiểm. Việc ứng dụng định danh điện tử (eKYC), chữ ký số, trí tuệ nhân tạo (AI) và phát hành hợp đồng không giấy được ứng dụng sâu rộng đã giúp khách hàng nộp hồ sơ trực tuyến, kiểm tra tiến độ và nhận kết quả nhanh chóng.

Trước đây, một hồ sơ bồi thường trung bình cần 7 - 10 ngày làm việc, nay có thể hoàn tất chỉ trong vài giờ nếu đầy đủ chứng từ. Sự thay đổi này không chỉ nâng cao trải nghiệm và mang lại niềm tin cho khách hàng, mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguồn lực vận hành, tăng khả năng kiểm soát rủi ro và ngăn ngừa gian lận.

“Chúng tôi tin rằng, AI và phân tích dữ liệu không chỉ giúp xử lý nhanh hơn, mà còn mở ra khả năng cá nhân hóa dịch vụ từ việc dự đoán nhu cầu bảo hiểm, đề xuất giải pháp phù hợp, đến cảnh báo rủi ro từ sớm. Nhờ đó, khách hàng không chỉ được chi trả nhanh chóng, mà còn được đồng hành trong việc phòng ngừa rủi ro và chăm sóc sức khỏe một cách chủ động”. - ông Sumit Nangia - Phó Tổng Giám đốc Dịch vụ khách hàng và Công nghệ thông tin AIA Việt Nam chia sẻ.

Ông Sumit Nangia - Phó Tổng Giám đốc Dịch vụ khách hàng và Công nghệ thông tin AIA Việt Nam chia sẻ, AIA Việt Nam xác định công nghệ và phân tích dữ liệu là nền tảng để hoạt động nhanh hơn, kết nối tốt hơn và sẵn sàng thích ứng với tương lai. Trước đây, quy trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm thường đòi hỏi khách hàng phải chuẩn bị nhiều chứng từ giấy, đi lại nhiều lần, chờ thẩm định thủ công. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã giúp rút ngắn đáng kể quy trình này.

“Thông qua hệ thống trực tuyến iClaim và ứng dụng AIA+, khách hàng chỉ cần sử dụng thiết bị điện tử để chụp hồ sơ và tải lên. Ngay lập tức, AI sẽ tiếp nhận, kiểm tra tính đầy đủ và tự động cập nhật trạng thái xử lý, giúp khách hàng theo dõi minh bạch từng bước của hồ sơ. Kết quả, hơn 80% hồ sơ được xử lý trong vòng 24 giờ, 92% hoàn tất trong 2 ngày. Đây là minh chứng rõ ràng rằng, công nghệ đã biến quá trình vốn phức tạp thành trải nghiệm nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện cho khách hàng” - ông Sumit Nangia nhấn mạnh.

Chính nhờ định hướng này, AIA Việt Nam đã duy trì chỉ số hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt trên 90%, nằm trong nhóm dẫn đầu thị trường.

Prudential Việt Nam cũng áp dụng tự động hóa hầu hết các công đoạn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm, cập nhật tiến trình xử lý yêu cầu tới khách hàng và tư vấn viên theo thời gian thực. Qua đó, tăng cường tương tác và đa dạng hình thức trao đổi thông tin giữa công ty, khách hàng, tư vấn viên qua tin nhắn SMS, E-letter, Zalo… Các thay đổi đã giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tập trung nâng cao chất lượng kênh phân phối và phát triển chiến lược đầu tư nhân sự.

Đại diện FWD Việt Nam cho biết, công ty đã tiên phong số hóa 100% hành trình trải nghiệm bảo hiểm của khách hàng, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thanh toán phí bảo hiểm, đến xử lý bồi thường… Đối với một số yêu cầu bồi thường bảo hiểm nhanh, thời gian giải quyết yêu cầu bồi thường bảo hiểm được rút ngắn xuống còn 1 phút gửi yêu cầu, 30 phút nhận được thông báo và 24 giờ để nhận được quyền lợi bảo hiểm. Tất cả các bước đều được thực hiện trực tuyến chỉ với vài thao tác đơn giản.

Có thể thấy, nhờ đẩy mạnh số hóa, doanh nghiệp bảo hiểm đã rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm thủ tục giấy tờ, tăng khả năng phát hiện gian lận, rủi ro vận hành. Doanh nghiệp cũng nâng cao năng lực cạnh tranh, khách hàng có xu hướng lựa chọn doanh nghiệp có dịch vụ bồi thường dễ dàng hơn, minh bạch hơn.

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho nạn nhân tai nạn giao thông

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền và doanh nghiệp bảo hiểm tại nhiều địa phương tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình các nạn nhân tai nạn giao thông tại tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên, Phú Thọ, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Quảng Trị. Tổng số tiền chi hỗ trợ nhân đạo cho các gia đình trong đợt này là gần 800 triệu đồng.

Theo quy định, mỗi trường hợp tử vong được hỗ trợ 45 triệu đồng, thương tật nặng được hỗ trợ 15 triệu đồng. Riêng tại Lạng Sơn, Quỹ cùng với Công ty Bảo Việt Lạng Sơn đã trao 180 triệu đồng cho gia đình 4 nạn nhân. Hoạt động còn có sự đồng hành của Bảo Việt Phú Thọ, BIDV Lâm Đồng, PTI Quảng Ninh và Bảo Việt Quảng Bình tại các địa phương, thể hiện tinh thần trách nhiệm xã hội và sự sẻ chia kịp thời với thân nhân người bị nạn của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Đại diện Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới cho biết, kinh phí được trích từ Quỹ do các doanh nghiệp bảo hiểm đóng góp theo Nghị định số 67/2023/NĐ-CP, nhằm giúp gia đình các nạn nhân sớm ổn định cuộc sống và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng. Hoạt động này cũng khẳng định ý nghĩa thiết thực của Quỹ trong việc chung tay cùng xã hội chia sẻ rủi ro, đồng thời góp phần nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông.

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Hồng Chi

Đọc thêm

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80