Đồng vốn ngân hàng chính sách xã hội thắp sáng niềm tin vùng đồng bào dân tộc

(TBTCO) - Đồng vốn chính sách xã hội đang trở thành điểm tựa niềm tin cho hàng nghìn hộ nghèo, đối tượng yếu thế vươn lên ổn định cuộc sống. Tại Krông Pắc, Đắk Lắk và tại Đầm Hà, Quảng Ninh, sự tận tâm của cán bộ tín dụng Ngân hàng chính sách xã hội đã giúp dòng vốn ưu đãi đi đúng địa chỉ, lan tỏa hiệu quả an sinh xã hội bền vững.
aa

Tận tâm đưa vốn chính sách thắp sáng niềm tin thoát nghèo

Giữa những khó khăn chồng chất của biến đổi khí hậu, thiên tai và biến động kinh tế toàn cầu, tinh thần “thấu hiểu lòng dân, tận tâm phục vụ” vẫn được lan tỏa bền bỉ trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH).

Đồng vốn chính sách xã hội thắp sáng niềm tin vùng đồng bào dân tộc

Y Viên Niê thường xuyên về làng, xuống xã giải ngân, tận tâm, thấu hiểu, đồng hành cùng bà con. Ảnh: CTVAH

Tại Phòng giao dịch NHCSXH Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, câu chuyện của cán bộ tín dụng Y Viên Niê là minh chứng sinh động cho niềm tự hào nghề nghiệp, khi mỗi đồng vốn chính sách được chuyển tải đúng địa chỉ, trở thành động lực giúp người nghèo vươn lên.

“Hằng ngày sau giờ làm việc, tôi vẫn tự hỏi hôm nay mình đã làm được gì tốt cho cơ quan, cho hộ nghèo, hộ chính sách và ngày mai cần phải làm gì hơn nữa?”. Câu nói giản dị của Y Viên Niê phản ánh rõ tâm thế của một cán bộ tín dụng chính sách coi công việc không chỉ là nghề mưu sinh, mà là trách nhiệm và vinh dự được Đảng, Nhà nước giao phó.

Với anh, khẩu hiệu “Thấu hiểu lòng dân, tận tâm phục vụ” không dừng lại ở lời nói, mà thể hiện qua những chuyến đi đều đặn về thôn, buôn, những buổi giải ngân tại xã, nơi anh trực tiếp lắng nghe, đồng hành cùng bà con, nhất là hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện sản xuất và trình độ dân trí còn nhiều hạn chế.

“Công việc có vất vả, nhưng thật sự vẻ vang khi được phục vụ người nghèo và các đối tượng yếu thế. Nhìn những hộ vay vốn thoát nghèo, những lao động có việc làm, những sinh viên được tiếp sức đến giảng đường, tôi càng tin yêu và tự hào về công việc mình đang làm”, Y Viên Niê chia sẻ.

Chính niềm tin ấy đã trở thành điểm tựa để anh không ngừng học hỏi, tích lũy kinh nghiệm từ thực tiễn cơ sở và từ đồng nghiệp, tận tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao. Hiệu quả tín dụng tại 4 xã do anh phụ trách ngày càng rõ nét, phản ánh qua những con số biết nói: dư nợ từ 56,9 tỷ đồng năm 2020 đã tăng lên hơn 166 tỷ đồng hiện nay.

Đặc biệt, 7,5 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm của 3.322 khách hàng vay vốn, chiếm tới 99% số thành viên vay vốn, cho thấy sự thay đổi căn bản trong nếp nghĩ, cách làm của bà con dân tộc thiểu số, từ chỗ trông chờ, ỷ lại sang chủ động tính toán, tích lũy và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay của Nhà nước.

Góp sức giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới

Tổ trưởng Tổ Kế hoạch - Nghiệp vụ Hoàng Phong Hải thuộc Phòng giao dịch NHCSXH Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh được biết đến là điển hình của tấm gương cán bộ tín dụng HNCSXH bền bỉ với nghề.

Hơn 20 năm vào ngành trải qua nhiều vị trí và các đơn vị công tác khác nhau và không ít khó khăn phải đương đầu như công tác xa nhà, thay đổi môi trường làm việc, nhiệm vụ của ngành ngày một đòi hỏi cao hơn,... song anh vẫn nỗ lực vượt qua, không ngừng học tập, tìm mọi giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc hoàn thành tốt vai trò của người cán bộ NHCSXH.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2019 - 2025, anh đã cùng các đồng nghiệp đưa dư nợ tín dụng tăng gấp hơn 2 lần so với đầu kỳ.

Đến 30/4/2025, tổng dư nợ của Phòng giao dịch đạt 398 tỷ đồng, tăng 189,5 tỷ đồng so với năm 2019, với 4.333 hộ vay đang còn dư nợ. Nguồn vốn đã góp phần chuyển biến phương thức sản xuất đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 30,83% dân số; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1,92%, hộ cận nghèo từ 3,89% vào năm 2020 xuống còn 0% vào năm 2023 theo tiêu chí Trung ương và hiện là 0% theo tiêu chí địa phương.

Những kết quả ấy không chỉ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng chính sách tại địa phương, mà còn khẳng định vai trò của đội ngũ cán bộ NHCSXH cơ sở trong thực hiện mục tiêu an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.

Câu chuyện của Y Viên Niê và Hoàng Phong Hải là lát cắt tiêu biểu trong phong trào thi đua của NHCSXH năm 2025, khi mỗi cán bộ, từ vị trí công tác của mình, đều nỗ lực phấn đấu, coi phục vụ người nghèo là niềm tự hào, góp phần đưa chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống.
Song Linh

Đọc thêm

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17887 18161 18741
CAD 18145 18421 19037
CHF 31636 32016 32665
CNY 0 3847 3939
EUR 29386 29607 30681
GBP 34331 34722 35655
HKD 0 3224 3427
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14951 15538
SGD 19864 20146 20711
THB 700 763 816
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26128 26492
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,517 29,541 30,950
JPY 156.55 156.83 166.3
GBP 34,528 34,621 35,812
AUD 18,076 18,141 18,828
CAD 18,348 18,407 19,085
CHF 31,916 32,015 32,961
SGD 19,999 20,061 20,845
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.56 17.27 18.78
THB 747.71 756.94 810.33
NZD 14,933 15,072 15,522
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,948 4,087
NOK - 2,702 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.95 - 6,801.44
TWD 734.45 - 889.64
SAR - 6,890.77 7,261.64
KWD - 83,190 88,505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26495
AUD 18075 18175 19100
CAD 18346 18446 19461
CHF 31911 31941 33527
CNY 3827.9 3852.9 3988.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29580 29610 31332
GBP 34658 34708 36463
HKD 0 3355 0
JPY 157.41 157.91 168.45
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20036 20166 20889
THB 0 729.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,510
USD20 26,135 26,185 26,510
USD1 24,029 26,185 26,557
AUD 18,103 18,203 19,336
EUR 29,348 29,448 31,146
CAD 18,283 18,383 19,716
SGD 20,103 20,253 20,835
JPY 157.79 159.29 165.07
GBP 34,522 34,672 35,781
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80