Lâm nghiệp ngày càng khẳng định là ngành kinh tế quan trọng

Khánh Linh
(TBTCO) - Từ suy thoái rừng đến kỳ tích phủ xanh đất trống, đồi núi trọc - dấu ấn nổi bật trong 80 năm phát triển, lâm nghiệp không chỉ là “lá chắn xanh”, mà còn ngày càng khẳng định là ngành kinh tế quan trọng.
aa

Việt Nam liên tục gia tăng diện tích rừng

Với chiều dài hơn 80 năm phát triển, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã đi qua một hành trình gian nan, nhưng kiêu hãnh, từ khôi phục rừng sau chiến tranh, đến phát triển kinh tế rừng bền vững và hội nhập quốc tế.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho biết, lịch sử phát triển rừng Việt Nam từng trải qua giai đoạn suy giảm nghiêm trọng, từ 14,42 triệu ha rừng năm 1943 xuống còn 8,97 triệu ha năm 1990; tỷ lệ che phủ giảm sâu xuống còn 27,2% - mức thấp nhất trong lịch sử. Đây là thách thức lớn đòi hỏi quyết tâm chính trị mạnh mẽ, chính sách đồng bộ và sự tham gia, chung sức phục hồi rừng của toàn xã hội.

Lâm nghiệp ngày càng khẳng định là ngành kinh tế quan trọng
Việt Nam là một trong số rất ít nước có tốc độ tăng trưởng rừng ổn định và nhanh nhất thế giới. Ảnh: Nguyễn Quỳnh

Bằng những nỗ lực chưa từng có, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam liên tục gia tăng diện tích rừng, tỷ lệ che phủ rừng thông qua các chương trình lớn như: Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (Chương trình 327), Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661), Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững (Chương trình 886 và 809).

Theo số liệu công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024, diện tích rừng đạt 14,87 triệu ha, tăng 5,41 triệu ha so với năm 1995; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%, hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII đề ra và đảm bảo duy trì ổn định ngưỡng an toàn sinh thái quốc gia.

Trong suốt hành trình 80 năm vừa qua, ngành lâm nghiệp tự hào đã góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với niềm tin, khát vọng lớn lao, ngành lâm nghiệp quyết tâm đóng góp mạnh mẽ hơn nữa vào công cuộc xây dựng đất nước xanh - thịnh vượng - bền vững.

Ông Nguyễn Quốc Trị - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Đây là thành tựu đặc biệt xuất sắc của ngành lâm nghiệp từ năm 1995 đến nay, đưa Việt Nam là một trong số rất ít nước có tốc độ tăng trưởng rừng ổn định và nhanh nhất thế giới. Theo báo cáo đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu năm 2020 của Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc, trong khi diện tích rừng thế giới suy giảm mạnh, diện tích rừng trồng thấp thì Việt Nam đứng thứ 5 trong nhóm 10 quốc gia trên thế giới có diện tích rừng tăng cao nhất, có diện tích rừng thuộc nhóm hàng đầu châu Á và thế giới.

Từ thành công trong phục hồi rừng đã minh chứng mạnh mẽ cho hiệu quả của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các cơ chế, chính sách để phát triển một nền lâm nghiệp hiện đại, bền vững và từng bước hội nhập quốc tế…

Thu hút phát triển kinh tế lâm nghiệp

Lâm nghiệp không chỉ là “lá chắn xanh”, mà còn là tài sản kinh tế vô giá. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành giai đoạn 1990 - 1998 bình quân chỉ đạt 1,06%. Đến giai đoạn 1999 - 2009, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng liên tục, bình quân đạt 2,85%/năm, gấp 2,7 lần so với giai đoạn 1990 - 1998.

Giai đoạn 2010 - 2015, giá trị sản xuất lâm nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,87%. Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,94%, gấp 5,6 lần so với giai đoạn 1990 - 1998 và hơn 2 lần so với giai đoạn 1999 - 2009.

Giai đoạn 2021 - 2024, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt trên 4,7%/năm; ước thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 5%/năm, đạt mục tiêu của Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững.

Đặc biệt, phát triển kinh tế lâm nghiệp đã góp phần thu hút các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia trồng rừng sản xuất, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, chế biến như: Trước năm 2008, khai thác gỗ của cả nước chỉ đáp ứng 30% nhu cầu gỗ nguyên liệu cho chế biến lâm sản, phải nhập khẩu từ nước ngoài khoảng 70% gỗ nguyên liệu. Từ năm 2009 đến nay, nước ta hàng năm tăng sản lượng gỗ phục vụ cho chế biến lâm sản, giảm nhập gỗ từ nước ngoài. Sản lượng khai thác gỗ nguyên liệu từ rừng trồng tập trung trong nước giai đoạn 2021 - 2014 bình quân đạt 20,5 triệu m3/năm.

Ngoài ra, từ năm 2000 đến nay, chế biến gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt được những thành tựu rất ấn tượng, đáp ứng cơ bản tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản giai đoạn 2021 - 2024 bình quân 16,2 tỷ USD/năm, trong đó, năm 2024 đạt giá trị cao kỷ lục là 17,35 tỷ USD. Năm 2025, tiếp đà thành công, ước giá trị xuất khẩu trên 18 tỷ USD. Trong nhiều năm, xuất khẩu lâm sản của Việt Nam luôn duy trì vị trí thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ 1 Đông Nam Á; sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt trên thị trường của hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Như vậy, ngành công nghiệp chế biến gỗ trở thành hàng xuất khẩu chủ lực trong nhóm ngành hàng nông, lâm, thủy sản, đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Cùng với nguồn thu từ khai thác gỗ, nguồn thu nhập khác từ rừng cũng ngày càng được mở rộng. Nổi bật là nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng - mô hình tiên phong trong huy động nguồn tài chính xanh. Giai đoạn 2011 - 2024, tổng thu dịch vụ môi trường rừng cả nước đạt 31.086 tỷ đồng, trong đó năm 2023 - 2024 có thêm nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu trữ carbon rừng, thí điểm tại vùng Bắc Trung Bộ với 56,5 triệu USD, bước đầu đặt nền móng cho việc hình thành, thể chế hóa và phát triển nguồn thu này trong tương lai.

Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quản lý, bảo vệ hơn 7,45 triệu ha rừng, chiếm 53,5% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần tăng thu nhập, ổn định sinh kế cho hàng trăm nghìn hộ dân.

Bên cạnh đó, "Ngoại giao lâm nghiệp" chính là sức mạnh mềm mới của Việt Nam. Việc tham gia chủ động vào các mạng lưới lâm nghiệp ASEAN và toàn cầu, thu hút nguồn lực từ REDD+, Quỹ khí hậu xanh và các dự án tài chính xanh đã, đang và sẽ tạo thêm sức mạnh để bảo vệ và phát triển rừng.

“Tấm hộ chiếu xanh” để đất nước hội nhập

Rừng Việt Nam không chỉ là tài sản quốc gia, mà còn là “tấm hộ chiếu xanh” để đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới “vì hành tinh thêm xanh”.

Ngày nay, trước biến đổi khí hậu toàn cầu, vai trò của rừng càng trở nên chiến lược. Mỗi cánh rừng không chỉ giữ đất, giữ nước, mà còn giữ lấy tương lai - là “tấm khiên xanh” bảo vệ an ninh môi trường, là “ngân hàng carbon” tự nhiên giúp Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero 2050.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị, bước vào giai đoạn phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngành lâm nghiệp Việt Nam định hướng phát triển dựa trên ba trụ cột chiến lược.

Thứ nhất, tiếp tục bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên rừng quốc gia. Duy trì tỷ lệ che phủ rừng ổn định 42-43%; tăng năng suất, chất lượng rừng; phát triển mạnh rừng gỗ lớn, rừng sản xuất tập trung…

Thứ hai, nâng tầm kinh tế lâm nghiệp. Phấn đấu đến năm 2030, giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 23 - 25 tỷ USD. Hình thành các khu lâm nghiệp công nghệ cao, các trung tâm chế biến gỗ quy mô khu vực. Phát triển dịch vụ môi trường rừng, đa dạng hóa mà mở rộng các nguồn thu, đặc biệt là dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon; thúc đẩy trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng. Đảm bảo nguồn thu tiền dịch vụ môi trường rừng tăng bình quân 5%/năm.

Thứ ba, tăng cường vai trò của rừng trong thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu; nâng cao hiệu quả bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và năng lực phòng hộ của rừng; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên rừng.

Khánh Linh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80