Mở đường đưa ngân hàng quốc doanh lọt Top 100 châu Á

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Một trong những mục tiêu trọng tâm của Nghị quyết số 79/NQ-TW đến năm 2030 là đưa ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước lọt Top 100 khu vực châu Á, trong bối cảnh 3/4 ngân hàng đã cán mốc 100 tỷ USD tổng tài sản với tốc độ tăng trưởng cao. Nghị quyết cũng mở ra cơ chế mới giúp tăng vốn điều lệ, nâng hệ số CAR và củng cố vai trò các ngân hàng chủ lực.
aa

Từ mốc 100 tỷ USD đến Top 100 châu Á

Ngay những ngày đầu năm 2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79/NQ-TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79). Nghị quyết này được xem như một phát pháo lệnh, mở ra giai đoạn phát triển mới cho khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời khẳng định rõ quan điểm kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế.

Một trong những mục tiêu phấn đấu trong Nghị quyết 79 là đến năm 2030, có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; đồng thời, phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần.

Mở đường đưa ngân hàng quốc doanh lọt Top 100 châu Á
Nghị quyết 79 đặt ra mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản. Ảnh: Đức Thanh

Nghị quyết 79 không chỉ nhấn mạnh mục tiêu mở rộng quy mô, mà còn đặt trọng tâm vào nâng cấp chất lượng các ngân hàng thông qua quản trị hiện đại, kiểm soát rủi ro, minh bạch, đẩy mạnh chuyển đổi số, ngân hàng số.

Nghị quyết cũng mở ra cơ chế tài chính mới, đó là có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ, bao gồm cả việc cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp.

"Tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước để nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động" - Nghị quyết 79 nêu rõ.

Trên nền tảng đó, từng bước hình thành những ngân hàng đủ lớn, đủ mạnh và đủ nhanh, có khả năng dẫn dắt thị trường, đồng thời mở đường đưa các ngân hàng Việt Nam tiến vào Top 100 châu Á.

Năm 2025, sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản của các ngân hàng quốc doanh đã trở thành một điểm nhấn nổi bật của toàn hệ thống. Thống kê cho thấy, trong nhóm "big 4", có tới 3 nhà băng cán mốc tổng tài sản 100 tỷ USD. Tính trong giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng tổng tài sản rất ấn tượng. BIDV dẫn đầu tăng 85%, Vietinbank sát nút 83%, Vietcombank khoảng 75% và Agribank khoảng 48%. Đà tăng này không chỉ giúp các ngân hàng quốc doanh nới rộng quy mô, mà còn kéo theo sự thay đổi đáng kể về thứ hạng.

Áp lực tăng trưởng nhanh buộc phải nâng CAR tương xứng

Thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho thấy, quy mô tài sản của nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á có ngưỡng tối thiểu 150 - 200 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng khoảng 5%/năm. Như vậy, với lộ trình 5 năm, để các ngân hàng lọt được vào top 100 đòi hỏi tăng trưởng tài sản trung bình 13 - 17%/năm.

"Tốc độ tăng trưởng tài sản cao sẽ tạo áp lực đáng kể lên tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng, mở ra triển vọng thúc đẩy quá trình thoái vốn nhà nước, bán vốn cho nhà đầu tư chiến lược của các ngân hàng thời gian tới" - nhóm phân tích KBSV đánh giá.

Cú hích tăng vốn và cải thiện CAR ngân hàng quốc doanh

Nghị quyết 79 tạo hướng mở quan trọng, cho phép nguồn lợi nhuận giữ lại được sử dụng để tăng vốn, tái đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thương mại nhà nước. Bên cạnh đó, tạo điều kiện giúp hệ số CAR các ngân hàng quốc doanh cải thiện đáng kể.

Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam

Cũng theo đánh giá của ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, để có thể mở rộng quy mô tổng tài sản và lọt vào nhóm Top 100 các ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á, các ngân hàng Việt Nam ước tính sẽ phải tăng quy mô tổng tài sản gấp 2 - 2,5 lần hiện nay.

Đây là một hành trình không hề bằng phẳng, bởi “vạch đích” Top 100 ngân hàng châu Á không đứng yên, khi các định chế tài chính quốc tế không ngừng mở rộng quy mô và gia tăng sức cạnh tranh. Dự báo, đến năm 2030, để có tên trong danh sách 100 ngân hàng lớn nhất khu vực, mỗi ngân hàng cần sở hữu tổng tài sản khoảng 250 - 300 tỷ USD.

Đặt trong bức tranh thực tế cuối năm 2025, dù "big 4" đã ghi nhận bước tiến đáng kể về quy mô, song khoảng cách tới ngưỡng mục tiêu vẫn còn khá xa. Đặc thù của ngành ngân hàng cho thấy, tăng trưởng tài sản không thể diễn ra quá nhanh nếu nền tảng vốn tự có không đủ vững. Bởi dù hệ số CAR của nhóm ngân hàng quốc doanh được cải thiện quanh 10%, con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với các ngân hàng trong khu vực.

Ông Nguyễn Tất Thái - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) từng nhận định, mặc dù giữ vị trí quan trọng và có đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưng vốn bổ sung cho các doanh nghiệp nhà nước lại rất hạn chế. Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, việc tăng vốn cho loại hình doanh nghiệp đặc biệt này càng khó khăn.

Trong những năm gần đây, vai trò của các ngân hàng thương mại nhà nước trong hệ thống đang có xu hướng giảm dần xét cả về quy mô, vốn điều lệ và thị phần hoạt động. Cụ thể, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước hiện nắm giữ khoảng 42% tổng tài sản của toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, song quy mô vốn điều lệ chỉ chiếm khoảng 20%. Thị phần huy động vốn của khối cũng giảm mạnh từ 74% năm 2004 xuống còn 46% vào năm 2024; tương ứng, thị phần tín dụng giảm từ 76% xuống còn 46% trong cùng giai đoạn.

Vốn điều lệ thấp cản trở hoạt động của ngân hàng thương mại nhà nước trên nhiều mặt, trong đó gây giảm CAR và khả năng cung ứng vốn tín dụng.

Cơ chế mới gỡ "nút thắt" để tăng vốn

Cũng theo ông Nguyễn Thế Minh, trước đây, lợi nhuận hằng năm của các ngân hàng quốc doanh thường được chi trả cổ tức bằng tiền mặt và nộp về ngân sách, do tỷ lệ sở hữu nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu cổ đông.

Áp lực tăng vốn của các ngân hàng quốc doanh càng trở nên rõ nét hơn, theo chuyên gia Chứng khoán Yuanta, đó là khi bước vào giai đoạn 2026 - 2030, thời kỳ triển khai hàng loạt dự án hạ tầng và đầu tư công quy mô lớn. Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng quốc doanh sẽ tiếp tục đóng vai trò nguồn cung vốn chủ lực cho nền kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc yêu cầu tăng vốn, củng cố bộ đệm an toàn tài chính sẽ trở thành áp lực bắt buộc, nhằm bảo đảm đủ nguồn lực cung ứng cho các dự án và duy trì ổn định hệ thống giai đoạn tới.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất của các doanh nghiệp nhà nước niêm yết, đặc biệt là nhóm ngân hàng, là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu giữ lại lợi nhuận để tăng vốn đáp ứng chuẩn Basel II/III và áp lực phải nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách nhà nước.

Nghị quyết 79 đã tháo gỡ "nút thắt" này thông qua cơ chế cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước... để bổ sung nguồn lực cho doanh nghiệp. Một điểm thay đổi mang tính bước ngoặt trong Nghị quyết là lần đầu tiên cho phép các doanh nghiệp nhà nước, trong đó, có các ngân hàng quốc doanh, được giữ lại phần lợi nhuận sau thuế để tăng vốn điều lệ hoặc tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

(TBTCO) - Diễn ra từ ngày 1/7 đến 30/9/2026 với hơn 5.000 ưu đãi, chương trình “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm” được Bảo hiểm Bảo Việt triển khai như một phần trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa chủ động bảo vệ tài chính - gia đình.
Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Việc mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng sẽ giảm gánh nặng chi phí, tạo thuận lợi hơn cho người bệnh trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17968 18243 18862
CHF 31824 32205 32861
CNY 0 3829 3922
EUR 29342 29563 30646
GBP 34042 34432 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15218
SGD 19748 20029 20601
THB 704 767 820
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26466
AUD 17762 17862 18787
CAD 18138 18238 19249
CHF 32039 32069 33655
CNY 3809.9 3834.9 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29497 29527 31250
GBP 34325 34375 36144
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14712 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20750
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80