Mở đường đưa ngân hàng quốc doanh lọt Top 100 châu Á

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Một trong những mục tiêu trọng tâm của Nghị quyết số 79/NQ-TW đến năm 2030 là đưa ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước lọt Top 100 khu vực châu Á, trong bối cảnh 3/4 ngân hàng đã cán mốc 100 tỷ USD tổng tài sản với tốc độ tăng trưởng cao. Nghị quyết cũng mở ra cơ chế mới giúp tăng vốn điều lệ, nâng hệ số CAR và củng cố vai trò các ngân hàng chủ lực.
aa

Từ mốc 100 tỷ USD đến Top 100 châu Á

Ngay những ngày đầu năm 2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79/NQ-TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79). Nghị quyết này được xem như một phát pháo lệnh, mở ra giai đoạn phát triển mới cho khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời khẳng định rõ quan điểm kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế.

Một trong những mục tiêu phấn đấu trong Nghị quyết 79 là đến năm 2030, có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; đồng thời, phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần.

Mở đường đưa ngân hàng quốc doanh lọt Top 100 châu Á
Nghị quyết 79 đặt ra mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản. Ảnh: Đức Thanh

Nghị quyết 79 không chỉ nhấn mạnh mục tiêu mở rộng quy mô, mà còn đặt trọng tâm vào nâng cấp chất lượng các ngân hàng thông qua quản trị hiện đại, kiểm soát rủi ro, minh bạch, đẩy mạnh chuyển đổi số, ngân hàng số.

Nghị quyết cũng mở ra cơ chế tài chính mới, đó là có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ, bao gồm cả việc cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp.

"Tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước để nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động" - Nghị quyết 79 nêu rõ.

Trên nền tảng đó, từng bước hình thành những ngân hàng đủ lớn, đủ mạnh và đủ nhanh, có khả năng dẫn dắt thị trường, đồng thời mở đường đưa các ngân hàng Việt Nam tiến vào Top 100 châu Á.

Năm 2025, sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản của các ngân hàng quốc doanh đã trở thành một điểm nhấn nổi bật của toàn hệ thống. Thống kê cho thấy, trong nhóm "big 4", có tới 3 nhà băng cán mốc tổng tài sản 100 tỷ USD. Tính trong giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng tổng tài sản rất ấn tượng. BIDV dẫn đầu tăng 85%, Vietinbank sát nút 83%, Vietcombank khoảng 75% và Agribank khoảng 48%. Đà tăng này không chỉ giúp các ngân hàng quốc doanh nới rộng quy mô, mà còn kéo theo sự thay đổi đáng kể về thứ hạng.

Áp lực tăng trưởng nhanh buộc phải nâng CAR tương xứng

Thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho thấy, quy mô tài sản của nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á có ngưỡng tối thiểu 150 - 200 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng khoảng 5%/năm. Như vậy, với lộ trình 5 năm, để các ngân hàng lọt được vào top 100 đòi hỏi tăng trưởng tài sản trung bình 13 - 17%/năm.

"Tốc độ tăng trưởng tài sản cao sẽ tạo áp lực đáng kể lên tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng, mở ra triển vọng thúc đẩy quá trình thoái vốn nhà nước, bán vốn cho nhà đầu tư chiến lược của các ngân hàng thời gian tới" - nhóm phân tích KBSV đánh giá.

Cú hích tăng vốn và cải thiện CAR ngân hàng quốc doanh

Nghị quyết 79 tạo hướng mở quan trọng, cho phép nguồn lợi nhuận giữ lại được sử dụng để tăng vốn, tái đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thương mại nhà nước. Bên cạnh đó, tạo điều kiện giúp hệ số CAR các ngân hàng quốc doanh cải thiện đáng kể.

Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam

Cũng theo đánh giá của ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, để có thể mở rộng quy mô tổng tài sản và lọt vào nhóm Top 100 các ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á, các ngân hàng Việt Nam ước tính sẽ phải tăng quy mô tổng tài sản gấp 2 - 2,5 lần hiện nay.

Đây là một hành trình không hề bằng phẳng, bởi “vạch đích” Top 100 ngân hàng châu Á không đứng yên, khi các định chế tài chính quốc tế không ngừng mở rộng quy mô và gia tăng sức cạnh tranh. Dự báo, đến năm 2030, để có tên trong danh sách 100 ngân hàng lớn nhất khu vực, mỗi ngân hàng cần sở hữu tổng tài sản khoảng 250 - 300 tỷ USD.

Đặt trong bức tranh thực tế cuối năm 2025, dù "big 4" đã ghi nhận bước tiến đáng kể về quy mô, song khoảng cách tới ngưỡng mục tiêu vẫn còn khá xa. Đặc thù của ngành ngân hàng cho thấy, tăng trưởng tài sản không thể diễn ra quá nhanh nếu nền tảng vốn tự có không đủ vững. Bởi dù hệ số CAR của nhóm ngân hàng quốc doanh được cải thiện quanh 10%, con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với các ngân hàng trong khu vực.

Ông Nguyễn Tất Thái - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) từng nhận định, mặc dù giữ vị trí quan trọng và có đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưng vốn bổ sung cho các doanh nghiệp nhà nước lại rất hạn chế. Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, việc tăng vốn cho loại hình doanh nghiệp đặc biệt này càng khó khăn.

Trong những năm gần đây, vai trò của các ngân hàng thương mại nhà nước trong hệ thống đang có xu hướng giảm dần xét cả về quy mô, vốn điều lệ và thị phần hoạt động. Cụ thể, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước hiện nắm giữ khoảng 42% tổng tài sản của toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, song quy mô vốn điều lệ chỉ chiếm khoảng 20%. Thị phần huy động vốn của khối cũng giảm mạnh từ 74% năm 2004 xuống còn 46% vào năm 2024; tương ứng, thị phần tín dụng giảm từ 76% xuống còn 46% trong cùng giai đoạn.

Vốn điều lệ thấp cản trở hoạt động của ngân hàng thương mại nhà nước trên nhiều mặt, trong đó gây giảm CAR và khả năng cung ứng vốn tín dụng.

Cơ chế mới gỡ "nút thắt" để tăng vốn

Cũng theo ông Nguyễn Thế Minh, trước đây, lợi nhuận hằng năm của các ngân hàng quốc doanh thường được chi trả cổ tức bằng tiền mặt và nộp về ngân sách, do tỷ lệ sở hữu nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu cổ đông.

Áp lực tăng vốn của các ngân hàng quốc doanh càng trở nên rõ nét hơn, theo chuyên gia Chứng khoán Yuanta, đó là khi bước vào giai đoạn 2026 - 2030, thời kỳ triển khai hàng loạt dự án hạ tầng và đầu tư công quy mô lớn. Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng quốc doanh sẽ tiếp tục đóng vai trò nguồn cung vốn chủ lực cho nền kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc yêu cầu tăng vốn, củng cố bộ đệm an toàn tài chính sẽ trở thành áp lực bắt buộc, nhằm bảo đảm đủ nguồn lực cung ứng cho các dự án và duy trì ổn định hệ thống giai đoạn tới.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất của các doanh nghiệp nhà nước niêm yết, đặc biệt là nhóm ngân hàng, là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu giữ lại lợi nhuận để tăng vốn đáp ứng chuẩn Basel II/III và áp lực phải nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách nhà nước.

Nghị quyết 79 đã tháo gỡ "nút thắt" này thông qua cơ chế cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước... để bổ sung nguồn lực cho doanh nghiệp. Một điểm thay đổi mang tính bước ngoặt trong Nghị quyết là lần đầu tiên cho phép các doanh nghiệp nhà nước, trong đó, có các ngân hàng quốc doanh, được giữ lại phần lợi nhuận sau thuế để tăng vốn điều lệ hoặc tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80