Phát triển thị trường vốn để giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng

Thu Hương
(TBTCO) - Dư địa mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng đang thu hẹp do phải đáp ứng các quy định chặt chẽ về an toàn vốn, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển thị trường vốn.
aa

Tín dụng ngân hàng vẫn là trụ cột vốn

Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế Việt Nam. Theo ông Nguyễn Đức Hải - Giám đốc Đầu tư cấp cao, Công ty Quản lý Quỹ Manulife Investments Việt Nam, một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, với sự tham gia mạnh mẽ của các kênh dẫn vốn trung và dài hạn, đến nay vẫn chưa hình thành đầy đủ tại Việt Nam. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, từng được kỳ vọng trở thành trụ cột quan trọng cho nguồn vốn dài hạn, mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu thì đã chịu cú sốc lớn trong những năm gần đây, khiến dòng vốn trung và dài hạn bị gián đoạn trong một thời gian dài.

Dù hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã có dấu hiệu phục hồi, nhưng đến nay, hơn 70% giá trị phát hành tăng thêm vẫn đến từ trái phiếu ngân hàng. Điều này cho thấy, các tổ chức tín dụng tiếp tục huy động vốn qua thị trường trái phiếu rồi quay trở lại cho vay nền kinh tế. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp, đối tượng có nhu cầu lớn về vốn trung và dài hạn cho đầu tư sản xuất vẫn chưa thể khai thác hiệu quả kênh huy động này.

Phát triển thị trường vốn để giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng
Các tổ chức tín dụng tiếp tục huy động vốn qua thị trường trái phiếu rồi quay trở lại cho vay nền kinh tế. Ảnh: An Thư

Thực tế trên phản ánh mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng vẫn còn lớn, trong khi thị trường vốn chưa phát huy đầy đủ vai trò chia sẻ gánh nặng cho tín dụng.

Vấn đề càng trở nên rõ nét khi dư địa mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng có xu hướng thu hẹp hơn so với trước. Ngân hàng là ngành kinh doanh có điều kiện, trong đó yêu cầu về hệ số an toàn vốn là ràng buộc then chốt. Mỗi bước tăng trưởng tín dụng đều đòi hỏi phần vốn tự có tương ứng, khiến khả năng mở rộng dư nợ phụ thuộc lớn vào năng lực tăng vốn của từng tổ chức.

Đối với nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn, lực lượng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ toàn hệ thống, nguồn tăng vốn hiện nay chủ yếu vẫn đến từ lợi nhuận giữ lại. Việc bổ sung vốn cho nhóm ngân hàng này cần cân nhắc nhiều yếu tố, trong khi các phương án tăng vốn thường đòi hỏi thời gian và quy trình phù hợp. Điều này khiến một phần quan trọng của hệ thống ngân hàng gặp những giới hạn nhất định trong việc mở rộng quy mô tín dụng.

Trong bối cảnh đó, dư địa điều hành chính sách tiền tệ có xu hướng thu hẹp hơn so với giai đoạn trước. Việc duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức cao như thời gian qua trở nên thách thức hơn, do mỗi đồng tín dụng mở rộng đều kéo theo yêu cầu về vốn tự có tương ứng.

“Nếu hệ thống ngân hàng phải vận hành trong trạng thái căng thẳng kéo dài, các rủi ro về thanh khoản và ổn định tài chính có thể gia tăng. Vì vậy, tăng trưởng tín dụng nhiều khả năng sẽ được điều hành theo hướng thận trọng, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống” - ông Hải nhận định.

Hạ tầng cần nguồn vốn dài hạn quy mô lớn

Yêu cầu phát triển các kênh vốn dài hạn càng trở nên rõ nét khi nhu cầu đầu tư hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn tới được dự báo ở mức rất lớn. Theo ước tính của ông Nguyễn Đức Hải, từ nay đến năm 2030, mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 40 tỷ USD cho các dự án điện, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt cao tốc và đường sắt đô thị. Với quy mô vốn như vậy, hệ thống ngân hàng khó có thể và cũng không nên đảm nhiệm toàn bộ nhu cầu tài trợ vốn, nếu muốn duy trì sự ổn định tài chính lâu dài.

Trước thực tế này, Chính phủ đã xác định rõ yêu cầu giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và đang thúc đẩy các hướng đi chiến lược nhằm đa dạng hóa kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Một trong những giải pháp quan trọng là thu hút nguồn vốn từ bên ngoài thông qua việc xây dựng và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, qua đó tạo thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn.

Theo ông Hải, các dòng vốn quốc tế, đặc biệt là vốn dài hạn, có thể tham gia các dự án hạ tầng quy mô lớn như cảng biển, năng lượng, giao thông - những lĩnh vực có vòng đời đầu tư kéo dài từ 10 đến 20 năm. Nếu các dự án này chỉ dựa vào vốn ngân hàng trong nước, rủi ro mất cân đối kỳ hạn và áp lực thanh khoản có thể gia tăng.

Song song với đó, việc tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu theo hướng minh bạch, kỷ luật và hấp dẫn hơn được xem là điều kiện then chốt. Ông Hải phân tích, mục tiêu của định hướng này không phải là tạo ra sự cạnh tranh giữa ngân hàng và thị trường vốn, mà là “phân vai” hợp lý: ngân hàng nên tập trung vào các khoản cho vay ngắn hạn, phù hợp với cấu trúc nguồn vốn, trong khi các dự án đầu tư dài hạn cần được tài trợ bởi những nguồn vốn ổn định hơn từ thị trường vốn. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng dồn gánh nặng tài trợ dài hạn lên hệ thống ngân hàng, qua đó giảm thiểu rủi ro cho an toàn tài chính.

Chính sách tiền tệ vẫn còn thận trọng

Ở góc độ điều hành vĩ mô, ông Trần Ngọc Báu - CEO WiGroup (công ty chuyên cung cấp dữ liệu kinh tế - tài chính) cho rằng, dư địa giữa chính sách tài khóa và tiền tệ hiện nay có sự khác biệt rõ rệt. Trong khi không gian tài khóa của Việt Nam vẫn được đánh giá là tương đối rộng, cho phép tiếp tục sử dụng các công cụ ngân sách để hỗ trợ tăng trưởng, thì chính sách tiền tệ phải cân nhắc nhiều hơn các yếu tố liên quan đến ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và áp lực tỷ giá.

Dù vậy, một điểm tích cực là dòng vốn ngoại sinh được kỳ vọng sẽ cải thiện trong thời gian tới. Trong 2 - 3 năm vừa qua, cả Chính phủ và khu vực doanh nghiệp đều ở trạng thái trả nợ nước ngoài ròng, khiến dòng vốn ngoại chảy ra nhiều hơn dòng vốn vào.

Nếu áp lực này giảm bớt và dòng vốn ngoại quay trở lại, nguồn ngoại tệ chảy vào nền kinh tế sẽ tạo thêm dư địa hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống tài chính. Khi Ngân hàng Nhà nước mua vào ngoại tệ để tăng dự trữ, một lượng tiền đồng tương ứng sẽ được đưa ra thị trường, qua đó góp phần cải thiện thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, dù giải ngân đầu tư công được đánh giá tích cực, một lượng vốn đáng kể vẫn đang nằm trong hệ thống ngân hàng hoặc tại Ngân hàng Nhà nước. Nếu các nguồn lực này được sử dụng hiệu quả hơn, thanh khoản của hệ thống tài chính sẽ tiếp tục được hỗ trợ.

Tổng thể, năm 2026 được nhìn nhận là giai đoạn mà dư địa chính sách tiền tệ tiếp tục bị thu hẹp, song sự hỗ trợ từ dòng vốn ngoại và không gian tài khóa có thể giúp duy trì trạng thái chính sách ở mức tương đối trung tính, tương đương năm 2025. Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng thận trọng để cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường vốn như một trụ cột quan trọng nhằm giảm dần sự lệ thuộc của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings (Moody’s) mới đây đã công bố nâng xếp hạng tín nhiệm Ba3, cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (FE CREDIT).
Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã ck: OCB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với những chuyển biến tích cực. Không chỉ ghi nhận sự tăng trưởng về quy mô và hiệu quả vận hành, cấu trúc thu nhập cũng cho thấy ngân hàng đang bước vào một chu kỳ phục hồi mang tính nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 23/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức phổ biến 700.000 - 800.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi sâu về vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

(TBTCO) - TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu nhấn mạnh, việc sớm thành lập sàn vàng quốc gia giúp minh bạch thị trường, thu hẹp chênh lệch giá vàng về mức hợp lý và khai thông nguồn lực vàng trong dân. Tuy nhiên, lộ trình triển khai vẫn đối mặt nhiều thách thức, trong đó có vấn đề cấp phép nhập khẩu, sản xuất vàng miếng và cân đối nguồn ngoại tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 15,730
Nguyên Liệu 99.9 15,480 15,680
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,330 ▲60K 16,730 ▲60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,280 ▲60K 16,680 ▲60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,210 ▲60K 16,660 ▲60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
NL 99.90 15,400 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450 ▼50K
Trang sức 99.9 16,060 ▼50K 16,760 ▼50K
Trang sức 99.99 16,070 ▼50K 16,770 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,655 ▲1655K 16,802 ▲16802K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,655 ▲1655K 16,803 ▲16803K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 165 ▲165K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 165 ▲165K 1,676 ▲1676K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,856 ▲157856K 164,356 ▲164356K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,762 ▲115762K 124,662 ▲124662K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,141 ▲104141K 113,041 ▲113041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,252 ▲9252K 10,142 ▲10142K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,038 ▲88038K 96,938 ▲96938K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,479 ▲60479K 69,379 ▲69379K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cập nhật: 24/04/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18262 18537 19110
CAD 18720 18998 19614
CHF 32874 33259 33904
CNY 0 3817 3909
EUR 30178 30451 31477
GBP 34708 35101 36043
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15124 15709
SGD 20091 20374 20890
THB 728 791 844
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26368
AUD 18447 18547 19475
CAD 18902 19002 20018
CHF 33119 33149 34728
CNY 3796.5 3821.5 3956.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30355 30385 32110
GBP 35017 35067 36825
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15239 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20243 20373 21104
THB 0 757.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 17200000
SBJ 15000000 15000000 17200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/04/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80