PV: Nhìn lại năm 2025, theo bà, đâu là những điểm sáng nổi bật trong bức tranh kinh tế Việt Nam?
![]() |
| TS. Lê Thị Thùy Vân |
TS. Lê Thị Thùy Vân: Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 có nhiều điểm sáng đáng chú ý. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02% so với năm trước, đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra và là mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2021 - 2025. Tốc độ tăng trưởng GDP diễn biến theo xu hướng quý sau cao hơn quý trước, cho thấy sự hồi phục bền vững từ sản xuất, tiêu dùng đến xuất khẩu, tạo đà vững chắc cho tăng trưởng ở mức 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030.
Quy mô GDP của Việt Nam đã tăng lên 514 tỷ USD trong năm 2025 (xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN). GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD/người/năm, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Qua đó, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng truyền thống (FDI, xuất khẩu) được tích cực đẩy mạnh, làm mới. Vốn FDI thực hiện năm 2025 khoảng 27,62 tỷ USD (cao nhất trong giai đoạn 2021 - 2025), tăng 9% so với cùng kỳ năm 2024 trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu bị thu hẹp, đưa Việt Nam vào nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.
Việc thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược, dự án FDI quy mô lớn trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng bán dẫn, sản xuất công nghệ cao toàn cầu, mở ra cơ hội tăng cường thu hút FDI trong lĩnh vực công nghệ cao giai đoạn tới.
Quy mô thương mại không ngừng tăng, từ 545,4 tỷ USD trong năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930,05 tỷ USD trong năm 2025 (tăng 18,2% so với 2024). Với kết quả này, Việt Nam đứng vững trong top 20 quốc gia dẫn đầu thế giới về quy mô thương mại quốc tế, khẳng định vị thế trên bản đồ thương mại toàn cầu.
Đáng chú ý, năm 2025, thu ngân sách nhà nước (NSNN) đạt trên 2,65 triệu tỷ đồng, vượt dự toán 683.000 tỷ đồng và tăng 29,7% so với năm 2024 trong bối cảnh vẫn tiếp tục thực hiện miễn giảm, gia hạn khoảng 251.000 tỷ đồng và nền kinh tế thế giới có nhiều biến động khó lường. Đặc biệt, năm 2025 là năm Chính phủ tăng nguồn lực cho đầu tư công, ưu tiên bố trí vốn NSNN cho đầu tư phát triển cao nhất từ trước tới nay với khoảng 1,08 triệu tỷ đồng.
Xét trên bình diện cả năm, cân đối NSNN được đảm bảo, bội chi NSNN ước khoảng 3,6% GDP (giảm so với dự toán là 3,8% GDP); nợ công khoảng 35 - 36% GDP, dưới trần 60%, qua đó tạo dư địa, góp phần củng cố nền tảng tài khóa cho giai đoạn tiếp theo.
Điểm sáng trên thị trường tài chính là thị trường chứng khoán Việt Nam được tổ chức xếp hạng FTSE Russell thăng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025. Điều này phản ánh những nỗ lực cải cách toàn diện của Việt Nam trong việc cải thiện thị trường chứng khoán minh bạch, hiện đại, hiệu quả theo các chuẩn mực quốc tế cao nhất, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên bản đồ đầu tư toàn cầu.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh |
PV: Những biến động địa chính trị, thương mại toàn cầu sẽ tác động ra sao đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2026, thưa bà?
TS. Lê Thị Thùy Vân: Mặc dù đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong năm 2025 và duy trì tăng trưởng quanh mức 3 - 3,2%, nhưng bước sang năm 2026, triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo chậm lại (khoảng 2,9%) với nhiều rủi ro lớn, đan xen và khó dự báo. Bối cảnh đó cũng mang đến nhiều thách thức cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Sự suy giảm của tăng trưởng, thương mại toàn cầu và làn sóng bảo hộ gia tăng đang đặt xuất khẩu của Việt Nam trước nhiều thách thức lớn. Dù thuế suất MFN bình quân của các nền kinh tế lớn ít biến động, nhưng việc duy trì thuế quan hiệu dụng đối với một số đối tác và nhóm hàng chiến lược vẫn ở mức cao cùng các quy tắc phòng vệ thương mại tại các thị trường lớn đang tạo áp lực lên các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Đồng thời, tình trạng bất ổn địa chính trị kéo dài khi các xung đột tại Ukraine, Trung Đông và nhiều điểm nóng khác chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, kết hợp với xu hướng phân mảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tạo áp lực lớn lên chi phí logistics, gây ra những biến động về giá trong các lĩnh vực thiết yếu như năng lượng, lương thực và nguyên vật liệu đầu vào. Với độ mở thương mại lớn, các cú sốc này có thể nhanh chóng lan tỏa vào nền kinh tế Việt Nam thông qua kênh giá cả và chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, rủi ro khí hậu, thiên tai ngày càng hiện hữu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, hạ tầng và đời sống người dân.
PV: Bà nhận định thế nào về tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định?
TS. Lê Thị Thùy Vân: Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 và cũng là năm đầu tiên nền kinh tế khởi đầu giai đoạn tăng trưởng 2 con số. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 được Quốc hội đặt ra từ 10% trở lên, GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD, lạm phát được kiểm soát ở mức khoảng 4,5%.
Mặc dù các tổ chức quốc tế dự báo kinh tế thế giới sẽ chậm lại, song triển vọng của kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều điểm sáng tích cực. Các đánh giá quốc tế kỳ vọng chu kỳ tăng trưởng mới của các ngành hàng không, logistics, đặc biệt, sự chuyển dịch sang thương mại dịch vụ số và khai thác không gian kinh tế xanh sẽ góp phần tạo ra những động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam.
Mặt khác, đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh sẽ là một mũi nhọn ưu tiên hàng đầu để đột phá kinh tế, đặc biệt là đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng trọng điểm. Nguồn lực này không đơn thuần là giải ngân vốn, mà còn đóng vai trò “vốn mồi”, kích thích đầu tư tư nhân và tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đến các ngành xây dựng, vật liệu và dịch vụ logistics.
Mặc dù vậy, bối cảnh thế giới năm 2026 còn nhiều yếu tố bất định cũng có thể làm tăng áp lực và thách thức trong ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam, nếu lạm phát chịu áp lực tăng do các yếu tố từ bên ngoài và rủi ro thị trường bất động sản tăng lên. Bên cạnh đó, sự phân mảnh thương mại và căng thẳng giữa các cường quốc kinh tế cũng có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến dòng vốn FDI và hoạt động xuất khẩu, vốn là hai trụ cột tăng trưởng chính của Việt Nam. Ngoài ra, các yếu tố nội tại như thiên tai, biến đổi khí hậu cũng là những biến số cần được tính đến trong kịch bản điều hành kinh tế năm 2026.
PV: Xin cảm ơn bà!


