Thị trường tiền tệ tuần 3/4 – 7/4:

Tín hiệu tích cực từ động thái giảm lãi suất và gói tín dụng ưu đãi

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, các quyết định giảm lãi suất chính thức có hiệu lực. Đồng thời, nhiều ngân hàng cũng thông báo giảm lãi suất, phát đi thông điệp tích cực cho khả năng tiếp cận vốn rẻ hơn trong thời gian tới. Trong khi đó, diễn biến đáng quan tâm khác là việc các ngân hàng chính thức nhập cuộc triển khai gói cho vay nhà ở xã hội cũng kỳ vọng tạo động lực tốt cho nền kinh tế.
aa

Lãi suất giảm tại nhiều ngân hàng

Ngay những ngày bước vào tuần mới, một số ngân hàng đã thông báo biểu lãi suất huy động mới giảm thấp hơn so với trước đây. Ngân hàng VP Bank cho biết đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động từ ngày 3/4. Theo đó, lãi suất tại quầy tại ngân hàng này cao nhất chỉ còn 8,3%/năm (với kỳ hạn 12 và 13 tháng).

Đặc biệt, lãi suất các kỳ hạn dài cũng được ngân hàng này để ở mức thấp hơn kỳ hạn 13 tháng, cụ thể kỳ hạn 15 – 36 tháng chỉ còn 7,1%/năm. Đây cũng là thông điệp các ngân hàng đã dự trù xu hướng lãi suất huy động sẽ có thể còn giảm thấp nữa trong thời gian tới.

Tín hiệu tích cực từ động thái giảm lãi suất và gói tín dụng ưu đãi
Lãi suất giảm kỳ vọng sẽ hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế. Ảnh: T.L
Hai gói tín dụng cộng hưởng: Kỳ vọng phá thế “ì ạch” tăng trưởng tín dụng

Tại một số ngân hàng khác, TP Bank cũng đã giảm lãi suất huy động tại một số kỳ hạn, với mức giảm khoảng 0,5%. Các kỳ hạn được ngân hàng này điều chỉnh giảm lãi suất chủ yếu tập trung vào những kỳ hạn ngắn khoảng từ 1 – 3 tháng.

Techcombank, Sacombank, Eximbank… cũng đều điều chỉnh giảm lãi suất tùy từng kỳ hạn và mức giảm nhiều ít tùy thuộc từng ngân hàng theo nhu cầu vốn cụ thể của mỗi ngân hàng.

Quy định về trần lãi suất huy động của NHNN tại Quyết định số 575/QĐ-NHNN

Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ mức 1,0%/năm xuống 0,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 6,0%/năm xuống 5,5%/năm.

Động thái giảm lãi suất của một số ngân hàng theo đó cũng phù hợp với các quyết định giảm lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra cuối tuần trước. Cụ thể, NHNN đã có Quyết định số 575/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chính thức áp dụng từ ngày 3/4.

Việc các ngân hàng giảm lãi suất huy động được thị trường đón nhận khá tích cực, bởi đây là thông điệp cho thấy lãi suất cho vay thời gian tới cũng sẽ giảm dần, qua đó giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn vay với chi phí tài chính thấp hơn.

Phát hiệu lệnh triển khai gói 120 nghìn tỷ đồng

Một trong những diễn biến quan trọng trên thị trường tiền tệ tuần qua là việc 4 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank và Vietinbank) đã chính thức nhập cuộc triển khai gói tín dụng ưu đãi cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, theo Nghị quyết số 33/NQ-CP của Chính phủ, với lãi suất thấp hơn từ 1,5 – 2% so với lãi suất cho vay thông thường.

Tín hiệu tích cực từ động thái giảm lãi suất và gói tín dụng ưu đãi
Gói tín dụng ưu đãi cho vay nhà ở xã hội đã chính thức triển khai từ tuần này. Ảnh: T.L

NHNN cho biết, lãi suất cho vay áp dụng đến hết ngày 30/6/2023 là 8,7%/năm đối với chủ đầu tư và 8,2%/năm đối với người mua nhà. Kể từ ngày 01/7/2023, định kỳ 6 tháng, NHNN thông báo lãi suất cho vay trong thời gian ưu đãi cho các ngân hàng thương mại tham gia chương trình.

Đây là chương trình tín dụng ưu đãi được thị trường đặt nhiều kỳ vọng góp phần khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ; qua đó giúp dần dần làm tan băng thị trường bất động sản cũng như duy trì động lực tăng trưởng cho nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2023 và các năm tiếp theo.

Tỷ giá duy trì nhịp ổn định

Trong suốt tuần qua, NHNN đã có một số phiên không điều chỉnh tỷ giá USD trung tâm, trong khi đó, một số phiên khác được điều chỉnh tăng rất nhẹ chỉ khoảng 1 – 2 đồng mỗi USD. Đầu tuần hôm 3/4, tỷ giá USD trung tâm là 23.600 đồng/USD và trong suốt cả tuần chỉ tăng thêm 3 đồng, chốt phiên cuối tuần ngày 7/4 ở mức 23.603 đồng/USD.

Trong khi đó, tỷ giá USD tại Vietcombank có diễn biến giảm nhẹ vào đầu tuần và giữ nhịp ổn định trong khoảng nửa cuối tuần. Đầu tuần mới, tỷ giá USD tại Vietcombank là 23.280/23.310/23.650 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra). Sau 2 ngày giảm nhẹ vào thứ hai và thứ ba, tỷ giá USD tại Vietcombank gần như không điều chỉnh trong suốt 3 ngày từ thứ tư đến thứ sáu, ghi nhận tỷ giá tại hôm cuối tuần là 23.250/23.280/23.620 đồng/USD.

Về diễn biến tỷ giá, hiện tại 2 yếu tố quan trọng đang hỗ trợ tốt cho tỷ giá là tình hình nhập siêu vẫn tiếp tục diễn ra và dự trữ ngoại hối của NHNN đang ở trạng thái khá dồi dào. Trong khi đó, thị trường quốc tế sau biến cố phá sản các ngân hàng Mỹ khiến Chính phủ Mỹ phải triển khai các giải pháp cứu trợ ít nhiều cũng làm tăng cung USD và theo đó, đồng USD vì thế còn tạo áp lực tăng giá như trong giai đoạn trước đó.

Giá vàng tăng đầu tuần, giảm cuối tuần

Giá vàng có diễn biến tăng trong những ngày đầu tuần, nhưng sau đó lại quay đầu giảm điểm vào cuối tuần.

Mở cửa đầu tuần ngày thứ hai 3/4, giá vàng miếng 9999 của SJC tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào nhưng giảm 50 nghìn đồng/lượng; sau đó giá vàng tiếp tục có thêm một phiên giảm điểm nữa vào thứ ba 4/4.

Từ thứ tư 5/4 đến thứ sáu 7/4, giá vàng đi vào xu hướng giảm điểm nhưng mức giảm nhẹ và theo đó, mặt bằng giá vàng ở thời điểm cuối tuần vẫn cao hơn chút ít so với đầu tuần. Cụ thể, giá vàng miếng 9999 SJC sáng thứ sáu ở Hà Nội khoảng 66,45 triệu đồng/lượng mua vào và 67,07 triệu đồng/lượng bán ra, cao hơn khoảng 150 nghìn đồng/lượng so với hôm thứ hai đầu tuần.

Về mặt trung hạn, giới đầu tư đánh giá giá vàng có nhiều khả năng đi lên do những ảnh hưởng của tình hình lạm phát ở Mỹ vẫn có thể chưa được kiểm soát hoàn toàn.

Một số thông tin về gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng

Đối tượng vay vốn (khách hàng) của chương trình là: pháp nhân, cá nhân đầu tư dự án và mua nhà ở tại các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ thuộc danh mục dự án do Bộ Xây dựng công bố theo quy định, gồm: khách hàng là chủ đầu tư dự án (chủ đầu tư) và khách hàng là người mua nhà ở tại dự án (người mua nhà). Thời hạn giải ngân của chương trình đến khi doanh số giải ngân đạt 120.000 tỷ đồng nhưng không quá ngày 31/12/2030.

Thời gian áp dụng mức lãi suất cho vay ưu đãi đối với chủ đầu tư là 3 năm và đối người mua nhà là 5 năm kể từ ngày giải ngân nhưng không quá thời hạn cho vay tại thỏa thuận cho vay ban đầu.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay (17/10): USD tự do giảm sâu, DXY mất mốc 102 điểm trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/10): USD tự do giảm sâu, DXY mất mốc 102 điểm trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 17/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều sau hai tuần giảm liên tiếp. Ngược lại, USD tự do giảm mạnh lùi dưới 26.000 đồng, trong khi chỉ số DXY mất mốc 102 điểm. Lạm phát Mỹ gia tăng, trong khi Chủ tịch Fed chưa hé lộ lộ trình lãi suất trước cuộc họp ngày 27 - 28/10.
Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng 16/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.637 đồng, USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY nhích 0,05% lên 102,03 điểm sau phiên giảm trước đó. Dữ liệu CPI và PPI Mỹ cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm tín hiệu về chính sách lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
Trang sức 99.9 13,400 ▼30K 14,000 ▼30K
Trang sức 99.99 13,410 ▼30K 14,010 ▼30K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 ▲1248K 14,172 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 ▲1248K 14,173 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cập nhật: 24/10/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 24/10/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30