Áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, cần linh hoạt trong điều hành

Nam Khánh
(TBTCO) - Theo PGS.TS Ngô Trí Long - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính), mục tiêu tăng trưởng GDP phấn đấu từ 10% trở lên và kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5% trong năm 2026 đặt ra yêu cầu điều hành theo tư duy quản trị rủi ro và kịch bản, phối hợp chặt giữa điều hành tiền tệ - tài khóa - giá cả.
aa

PV: Ông dự báo như thế nào về kịch bản lạm phát của Việt Nam trong năm 2026?

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo các dự báo cập nhật, lạm phát (CPI bình quân) của Việt Nam năm 2026 được kỳ vọng duy trì trong vùng kiểm soát. Các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo CPI khoảng 3,2%; World Bank dự báo khoảng 3,7%; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo khoảng 3,8%. Một số định chế tài chính quốc tế như Standard Chartered và HSBC đưa ra mức dự báo khoảng 3,5 - 3,7%.

Áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, cần linh hoạt trong điều hành
PGS.TS. Ngô Trí Long

Ở trong nước, Quốc hội đặt mục tiêu điều hành CPI năm 2026 khoảng 4,5%, tạo dư địa cho điều chỉnh giá dịch vụ công (điện, y tế, giáo dục) và ứng phó rủi ro chi phí.

Tổng hợp cho thấy, mặt bằng dự báo chủ đạo của quốc tế nằm trong khoảng 3,2 - 3,8%, thấp hơn ngưỡng mục tiêu trong nước, phản ánh dư địa điều hành, nhưng cũng yêu cầu kiểm soát tốt các cú sốc chi phí.

Dưới góc nhìn của chuyên gia, tôi dự báo 3 kịch bản lạm phát năm 2026 cho Việt Nam theo cách “có căn cứ - có điều kiện kích hoạt”. Cụ thể, theo kịch bản thuận lợi: CPI bình quân năm 2026 quanh 3,2% (±0,2 điểm %), tức tăng 3 - 3,4%. Kịch bản cơ sở: CPI bình quân 2026 khoảng 3,8% (±0,2 điểm %), tức tăng 3,5 - 4%. Kịch bản rủi ro cao: CPI bình quân tăng 4,3 - 4,8% (vùng cảnh báo).

Như vậy, tôi lấy dự báo của IMF (3,4%) làm neo cho kịch bản thuận lợi, ADB (3,8%) làm neo cho kịch bản cơ sở và mục tiêu kiểm soát CPI khoảng 4,5% của Quốc hội làm ngưỡng nhận diện kịch bản rủi ro cao; chênh lệch giữa các kịch bản chủ yếu đến từ 4 biến số: điện - tín dụng - thực phẩm - logistics/tỷ giá.

Các dự báo phổ biến cho thấy, lạm phát năm 2026 có thể ở vùng kiểm soát (kịch bản cơ sở khoảng 3,4 - 3,8%), song rủi ro “cộng hưởng” giữa chi phí đẩy (điện, y tế, lương thực, tỷ giá) và cầu kéo (đầu tư công, tín dụng, tiêu dùng) có thể kéo CPI tiến gần 4,5% nếu thiếu chủ động.

Áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, cần linh hoạt trong điều hành
Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh

PV: Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng, năm 2026, bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động sẽ tác động đến thị trường hàng hóa của Việt Nam. Theo ông, những nhân tố nào sẽ tác động tới lạm phát của Việt Nam trong năm 2026?

PGS.TS Ngô Trí Long: Nhóm nhân tố thế giới có khả năng làm gia tăng áp lực lạm phát trong năm 2026, thứ nhất là năng lượng và chi phí vận tải quốc tế; thứ hai, xu hướng USD mạnh và mặt bằng lãi suất quốc tế cao kéo dài; thứ ba, biến động giá lương thực toàn cầu do rủi ro khí hậu.

Nhóm nhân tố thế giới có khả năng làm giảm hoặc hạ nhiệt áp lực lạm phát trong năm 2026 bao gồm xu hướng hạ nhiệt lạm phát toàn cầu và chuỗi cung ứng toàn cầu phục hồi, tái cấu trúc theo hướng ổn định hơn.

Nhiều điểm sáng trong công tác điều hành giá

PGS.TS Ngô Trí Long cho biết, công tác điều hành giá thời gian qua, đặc biệt là vai trò của Bộ Tài chính trong việc ổn định mặt bằng giá có nhiều điểm sáng. Điểm sáng dễ nhận thấy nhất là công tác điều hành giá ngày càng chủ động, bài bản và linh hoạt hơn. Một điểm rất đáng chú ý là việc công khai sớm lộ trình điều chỉnh giá đối với các mặt hàng nhạy cảm như y tế, giáo dục, điện, xăng dầu.

Đối với nhóm hàng thiết yếu, Bộ Tài chính đã đề nghị các cơ quan quản lý, địa phương tăng cường dự báo cung - cầu theo tuần, chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết, tổ chức nhiều điểm bán bình ổn. Cùng với đó, cơ chế sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu linh hoạt đã giúp giảm biên độ biến động, hạn chế tác động lan tỏa của giá thế giới vào thị trường trong nước.

Trong năm 2026, các nhân tố bên ngoài đối với lạm phát Việt Nam dự kiến đan xen cả chiều hướng gây áp lực tăng giá và chiều hướng hạ nhiệt. Rủi ro lạm phát chủ yếu đến từ các cú sốc khó dự báo như năng lượng, tỷ giá và giá lương thực, trong khi xu hướng chung của lạm phát toàn cầu và chuỗi cung ứng lại mang tính hỗ trợ. Điều này đòi hỏi điều hành vĩ mô của Việt Nam phải chuyển mạnh từ tư duy phản ứng sang quản trị rủi ro lạm phát, với trọng tâm là theo dõi sát các kênh truyền dẫn quốc tế ngay từ đầu năm 2026.

Nhóm nhân tố trong nước có thể làm tăng giá năm 2026 bao gồm cầu kéo từ mục tiêu tăng trưởng cao: tổng cầu “nhích nhanh hơn tổng cung” trong các quý đầu năm; điều chỉnh giá do Nhà nước quản lý: rủi ro “điểm rơi” theo lộ trình và hiệu ứng lan tỏa chi phí; thực phẩm - đặc biệt là thịt và hàng tươi sống: nhạy với dịch bệnh, thời tiết và chi phí đầu vào.

Nhóm nhân tố trong nước có thể làm giảm hoặc kìm giá trong năm 2026, đó là tăng năng lực cung và giảm chi phí logistics sẽ giúp kìm giá theo hướng “bền” hơn; quản trị kỳ vọng lạm phát tốt thông qua giảm hành vi găm hàng - đầu cơ và giảm “độ dốc” tăng giá.

PV: Bước sang 2026, mục tiêu tăng trưởng phấn đấu từ 10% trở lên trong khi định hướng kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5%. Để kiểm soát lạm phát, cơ quan chức năng cần có giải pháp gì trong công tác quản lý giá, thưa ông?

PGS.TS Ngô Trí Long: Nghị quyết của Quốc hội đặt “khung mục tiêu” rất rõ: tăng trưởng cao nhưng CPI khoảng 4,5%. Để đạt mục tiêu, cần chuyển trọng tâm từ xử lý “điểm nóng giá” sang kiểm soát cơ chế hình thành và lan tỏa lạm phát.

Theo đó, Chính phủ neo kỳ vọng lạm phát - coi đây là “mỏ neo” của ổn định vĩ mô. Song song đó, công bố định kỳ kịch bản lạm phát (cơ sở - áp lực - rủi ro) và “ngưỡng kích hoạt” chính sách; truyền thông chính sách nhất quán: giá dịch vụ công điều chỉnh theo lộ trình, tránh dồn cục; ưu tiên ổn định nhóm thiết yếu.

Bên cạnh đó, điều hành giá Nhà nước quản lý theo lộ trình minh bạch, “giãn nhịp” hợp lý như lập lịch điều chỉnh với nguyên tắc phân bổ đều theo quý, tháng, hạn chế trùng nhịp tăng của nhiều nhóm như điện, y tế, giáo dục; đánh giá tác động vòng hai trước điều chỉnh: ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, vận tải, dịch vụ…

Chính phủ cần củng cố “bộ đệm cung” cho lương thực - thực phẩm - năng lượng. Ví dụ, tăng dự trữ, điều phối hàng thiết yếu; xây cơ chế cảnh báo sớm (thời tiết, dịch bệnh) cho các nhóm thực phẩm dễ sốc; giảm chi phí trung gian: kho lạnh, logistics nông sản, kết nối vùng cung - cầu; thúc đẩy chuẩn hóa chuỗi phân phối.

Cùng với đó, trong công tác điều hành cần phối hợp tiền tệ - tài khóa theo mục tiêu kép: tăng trưởng cao nhưng không “đốt nóng” Cụ thể, đối với chính sách tiền tệ, điều tiết thanh khoản linh hoạt, kiểm soát tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng, hướng vào sản xuất - xuất khẩu - công nghệ, hạn chế dòng vốn tạo bong bóng giá tài sản. Đối với chính sách tài khóa, đầu tư công theo nguyên tắc “đúng trọng tâm, đúng tiến độ, đúng hiệu quả”, tránh dàn trải làm tăng cầu danh nghĩa, nhưng không tăng cung tiềm năng.

Ngoài ra, cần giảm chi phí logistics và chi phí tuân thủ. Đây là giải pháp “phòng lạm phát” bền vững. Theo đó, cần cắt giảm chi phí không chính thức và chi phí thủ tục để giảm “chi phí đẩy” phi thị trường; nâng hiệu quả vận tải, kho bãi, hạ tầng để giảm chi phí phân phối - tác động trực tiếp vào mặt bằng giá.

Cuối cùng, cần nâng chất lượng quản lý thị trường và giám sát giá theo dữ liệu: thiết lập cơ chế “giám sát giá theo rổ nhạy cảm” (thực phẩm, điện, y tế, vật liệu, vận tải); tăng kiểm tra chống đầu cơ - găm hàng ở thời điểm nhạy cảm (dịp lễ, thiên tai), nhưng tránh can thiệp hành chính gây méo tín hiệu cung - cầu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nam Khánh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80