Áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, cần linh hoạt trong điều hành

Nam Khánh
(TBTCO) - Theo PGS.TS Ngô Trí Long - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính), mục tiêu tăng trưởng GDP phấn đấu từ 10% trở lên và kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5% trong năm 2026 đặt ra yêu cầu điều hành theo tư duy quản trị rủi ro và kịch bản, phối hợp chặt giữa điều hành tiền tệ - tài khóa - giá cả.
aa

PV: Ông dự báo như thế nào về kịch bản lạm phát của Việt Nam trong năm 2026?

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo các dự báo cập nhật, lạm phát (CPI bình quân) của Việt Nam năm 2026 được kỳ vọng duy trì trong vùng kiểm soát. Các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo CPI khoảng 3,2%; World Bank dự báo khoảng 3,7%; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo khoảng 3,8%. Một số định chế tài chính quốc tế như Standard Chartered và HSBC đưa ra mức dự báo khoảng 3,5 - 3,7%.

Áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, cần linh hoạt trong điều hành
PGS.TS. Ngô Trí Long

Ở trong nước, Quốc hội đặt mục tiêu điều hành CPI năm 2026 khoảng 4,5%, tạo dư địa cho điều chỉnh giá dịch vụ công (điện, y tế, giáo dục) và ứng phó rủi ro chi phí.

Tổng hợp cho thấy, mặt bằng dự báo chủ đạo của quốc tế nằm trong khoảng 3,2 - 3,8%, thấp hơn ngưỡng mục tiêu trong nước, phản ánh dư địa điều hành, nhưng cũng yêu cầu kiểm soát tốt các cú sốc chi phí.

Dưới góc nhìn của chuyên gia, tôi dự báo 3 kịch bản lạm phát năm 2026 cho Việt Nam theo cách “có căn cứ - có điều kiện kích hoạt”. Cụ thể, theo kịch bản thuận lợi: CPI bình quân năm 2026 quanh 3,2% (±0,2 điểm %), tức tăng 3 - 3,4%. Kịch bản cơ sở: CPI bình quân 2026 khoảng 3,8% (±0,2 điểm %), tức tăng 3,5 - 4%. Kịch bản rủi ro cao: CPI bình quân tăng 4,3 - 4,8% (vùng cảnh báo).

Như vậy, tôi lấy dự báo của IMF (3,4%) làm neo cho kịch bản thuận lợi, ADB (3,8%) làm neo cho kịch bản cơ sở và mục tiêu kiểm soát CPI khoảng 4,5% của Quốc hội làm ngưỡng nhận diện kịch bản rủi ro cao; chênh lệch giữa các kịch bản chủ yếu đến từ 4 biến số: điện - tín dụng - thực phẩm - logistics/tỷ giá.

Các dự báo phổ biến cho thấy, lạm phát năm 2026 có thể ở vùng kiểm soát (kịch bản cơ sở khoảng 3,4 - 3,8%), song rủi ro “cộng hưởng” giữa chi phí đẩy (điện, y tế, lương thực, tỷ giá) và cầu kéo (đầu tư công, tín dụng, tiêu dùng) có thể kéo CPI tiến gần 4,5% nếu thiếu chủ động.

Áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, cần linh hoạt trong điều hành
Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh

PV: Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng, năm 2026, bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động sẽ tác động đến thị trường hàng hóa của Việt Nam. Theo ông, những nhân tố nào sẽ tác động tới lạm phát của Việt Nam trong năm 2026?

PGS.TS Ngô Trí Long: Nhóm nhân tố thế giới có khả năng làm gia tăng áp lực lạm phát trong năm 2026, thứ nhất là năng lượng và chi phí vận tải quốc tế; thứ hai, xu hướng USD mạnh và mặt bằng lãi suất quốc tế cao kéo dài; thứ ba, biến động giá lương thực toàn cầu do rủi ro khí hậu.

Nhóm nhân tố thế giới có khả năng làm giảm hoặc hạ nhiệt áp lực lạm phát trong năm 2026 bao gồm xu hướng hạ nhiệt lạm phát toàn cầu và chuỗi cung ứng toàn cầu phục hồi, tái cấu trúc theo hướng ổn định hơn.

Nhiều điểm sáng trong công tác điều hành giá

PGS.TS Ngô Trí Long cho biết, công tác điều hành giá thời gian qua, đặc biệt là vai trò của Bộ Tài chính trong việc ổn định mặt bằng giá có nhiều điểm sáng. Điểm sáng dễ nhận thấy nhất là công tác điều hành giá ngày càng chủ động, bài bản và linh hoạt hơn. Một điểm rất đáng chú ý là việc công khai sớm lộ trình điều chỉnh giá đối với các mặt hàng nhạy cảm như y tế, giáo dục, điện, xăng dầu.

Đối với nhóm hàng thiết yếu, Bộ Tài chính đã đề nghị các cơ quan quản lý, địa phương tăng cường dự báo cung - cầu theo tuần, chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết, tổ chức nhiều điểm bán bình ổn. Cùng với đó, cơ chế sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu linh hoạt đã giúp giảm biên độ biến động, hạn chế tác động lan tỏa của giá thế giới vào thị trường trong nước.

Trong năm 2026, các nhân tố bên ngoài đối với lạm phát Việt Nam dự kiến đan xen cả chiều hướng gây áp lực tăng giá và chiều hướng hạ nhiệt. Rủi ro lạm phát chủ yếu đến từ các cú sốc khó dự báo như năng lượng, tỷ giá và giá lương thực, trong khi xu hướng chung của lạm phát toàn cầu và chuỗi cung ứng lại mang tính hỗ trợ. Điều này đòi hỏi điều hành vĩ mô của Việt Nam phải chuyển mạnh từ tư duy phản ứng sang quản trị rủi ro lạm phát, với trọng tâm là theo dõi sát các kênh truyền dẫn quốc tế ngay từ đầu năm 2026.

Nhóm nhân tố trong nước có thể làm tăng giá năm 2026 bao gồm cầu kéo từ mục tiêu tăng trưởng cao: tổng cầu “nhích nhanh hơn tổng cung” trong các quý đầu năm; điều chỉnh giá do Nhà nước quản lý: rủi ro “điểm rơi” theo lộ trình và hiệu ứng lan tỏa chi phí; thực phẩm - đặc biệt là thịt và hàng tươi sống: nhạy với dịch bệnh, thời tiết và chi phí đầu vào.

Nhóm nhân tố trong nước có thể làm giảm hoặc kìm giá trong năm 2026, đó là tăng năng lực cung và giảm chi phí logistics sẽ giúp kìm giá theo hướng “bền” hơn; quản trị kỳ vọng lạm phát tốt thông qua giảm hành vi găm hàng - đầu cơ và giảm “độ dốc” tăng giá.

PV: Bước sang 2026, mục tiêu tăng trưởng phấn đấu từ 10% trở lên trong khi định hướng kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5%. Để kiểm soát lạm phát, cơ quan chức năng cần có giải pháp gì trong công tác quản lý giá, thưa ông?

PGS.TS Ngô Trí Long: Nghị quyết của Quốc hội đặt “khung mục tiêu” rất rõ: tăng trưởng cao nhưng CPI khoảng 4,5%. Để đạt mục tiêu, cần chuyển trọng tâm từ xử lý “điểm nóng giá” sang kiểm soát cơ chế hình thành và lan tỏa lạm phát.

Theo đó, Chính phủ neo kỳ vọng lạm phát - coi đây là “mỏ neo” của ổn định vĩ mô. Song song đó, công bố định kỳ kịch bản lạm phát (cơ sở - áp lực - rủi ro) và “ngưỡng kích hoạt” chính sách; truyền thông chính sách nhất quán: giá dịch vụ công điều chỉnh theo lộ trình, tránh dồn cục; ưu tiên ổn định nhóm thiết yếu.

Bên cạnh đó, điều hành giá Nhà nước quản lý theo lộ trình minh bạch, “giãn nhịp” hợp lý như lập lịch điều chỉnh với nguyên tắc phân bổ đều theo quý, tháng, hạn chế trùng nhịp tăng của nhiều nhóm như điện, y tế, giáo dục; đánh giá tác động vòng hai trước điều chỉnh: ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, vận tải, dịch vụ…

Chính phủ cần củng cố “bộ đệm cung” cho lương thực - thực phẩm - năng lượng. Ví dụ, tăng dự trữ, điều phối hàng thiết yếu; xây cơ chế cảnh báo sớm (thời tiết, dịch bệnh) cho các nhóm thực phẩm dễ sốc; giảm chi phí trung gian: kho lạnh, logistics nông sản, kết nối vùng cung - cầu; thúc đẩy chuẩn hóa chuỗi phân phối.

Cùng với đó, trong công tác điều hành cần phối hợp tiền tệ - tài khóa theo mục tiêu kép: tăng trưởng cao nhưng không “đốt nóng” Cụ thể, đối với chính sách tiền tệ, điều tiết thanh khoản linh hoạt, kiểm soát tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng, hướng vào sản xuất - xuất khẩu - công nghệ, hạn chế dòng vốn tạo bong bóng giá tài sản. Đối với chính sách tài khóa, đầu tư công theo nguyên tắc “đúng trọng tâm, đúng tiến độ, đúng hiệu quả”, tránh dàn trải làm tăng cầu danh nghĩa, nhưng không tăng cung tiềm năng.

Ngoài ra, cần giảm chi phí logistics và chi phí tuân thủ. Đây là giải pháp “phòng lạm phát” bền vững. Theo đó, cần cắt giảm chi phí không chính thức và chi phí thủ tục để giảm “chi phí đẩy” phi thị trường; nâng hiệu quả vận tải, kho bãi, hạ tầng để giảm chi phí phân phối - tác động trực tiếp vào mặt bằng giá.

Cuối cùng, cần nâng chất lượng quản lý thị trường và giám sát giá theo dữ liệu: thiết lập cơ chế “giám sát giá theo rổ nhạy cảm” (thực phẩm, điện, y tế, vật liệu, vận tải); tăng kiểm tra chống đầu cơ - găm hàng ở thời điểm nhạy cảm (dịp lễ, thiên tai), nhưng tránh can thiệp hành chính gây méo tín hiệu cung - cầu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nam Khánh

Đọc thêm

EVN khởi công dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II

EVN khởi công dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II

(TBTCO) - Sáng 20/10, tại Trung tâm Điện lực Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ban Quản lý dự án Điện 2 tổ chức lễ khởi công, phát động thi đua dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II, đồng thời công bố sự kiện Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I phát điện lên lưới điện quốc gia.
Đầu tư 40.372 tỷ đồng xây tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Đức Hòa - Mỹ An

Đầu tư 40.372 tỷ đồng xây tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Đức Hòa - Mỹ An

(TBTCO) - Tuyến cao tốc Đức Hòa - Mỹ An dài 63,6 km qua Tây Ninh và Đồng Tháp được nghiên cứu theo hai phương án kết cấu, trong đó phương án cầu cạn được kiến nghị ưu tiên nhằm giảm nhu cầu vật liệu, đất đai và rủi ro tiến độ.
Hà Nội thí điểm chấm điểm giải ngân đầu tư công, gắn với đánh giá cán bộ

Hà Nội thí điểm chấm điểm giải ngân đầu tư công, gắn với đánh giá cán bộ

(TBTCO) - Hà Nội thí điểm chấm điểm, xếp loại kết quả giải ngân vốn đầu tư công trong quý IV/2026; kết quả cả năm là một trong các căn cứ đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân.
Từ hợp tác Việt Nam - Thụy Sĩ đến cơ hội nâng tầm doanh nghiệp Việt

Từ hợp tác Việt Nam - Thụy Sĩ đến cơ hội nâng tầm doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Hợp tác với Thụy Sĩ mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả cơ hội hội nhập, doanh nghiệp cần nâng chất nguồn nhân lực và từng bước gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng.
Thúc đẩy cơ hội thương mại, đầu tư Việt Nam - Thụy Sĩ

Thúc đẩy cơ hội thương mại, đầu tư Việt Nam - Thụy Sĩ

Chiều 18/10, tại Hà Nội, Diễn đàn kinh tế Thụy Sĩ - Việt Nam 2026 (SVEF 2026) đã chính thức khai mạc, mở ra cơ hội thúc đẩy thương mại, đầu tư và kết nối chuỗi giá trị giữa hai nước, trong bối cảnh Hiệp định Thương mại tự do giữa EFTA và Việt Nam vừa được ký kết.
Đề xuất xây thêm đường cất hạ cánh phía Bắc sân bay Nội Bài

Đề xuất xây thêm đường cất hạ cánh phía Bắc sân bay Nội Bài

(TBTCO) - Liên danh tư vấn kiến nghị chọn phương án A6 để mở rộng sân bay Nội Bài về phía Bắc, xây thêm đường cất hạ cánh, nâng năng lực khu bay lên 55 - 60 triệu khách/năm.
TP. Hồ Chí Minh: Hướng tới trung tâm trung chuyển quốc tế và logistics tầm khu vực

TP. Hồ Chí Minh: Hướng tới trung tâm trung chuyển quốc tế và logistics tầm khu vực

(TBTCO) - Nhiều dự án cảng biển quy mô lớn với tổng vốn đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng đang được triển khai tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực cửa ngõ phía Nam, mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế biển, logistics và xuất nhập khẩu để từng bước hình thành hệ sinh thái cảng biển hiện đại, hướng tới trở thành trung tâm trung chuyển quốc tế và logistics tầm khu vực.
Đến giữa tháng 10/2026, Gia Lai thu hút dòng vốn đầu tư hơn 210.000 tỷ đồng

Đến giữa tháng 10/2026, Gia Lai thu hút dòng vốn đầu tư hơn 210.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến ngày 14/10, tỉnh Gia Lai thu hút được 235 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 214.000 tỷ đồng. Hiện nay, Gia Lai đang chuyển mạnh từ thu hút đầu tư sang triển khai thực hiện và tạo ra sản phẩm cụ thể.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều