Không phải cứ giá cao là căn hộ hạng “sang”

Việt Dương
(TBTCO) - Thị trường đang rơi vào trạng thái nghịch lý khi phân khúc căn hộ "hạng sang" ngày càng nhiều trong khi thu nhập thực tế của người dân không theo kịp tốc độ tăng của giá nhà.
aa
Không phải cứ giá cao là căn hộ hạng “sang”
Ảnh minh họa. Việt Dương

“Lạm phát” căn hộ hạng sang

Theo các báo cáo nghiên cứu thị trường mới nhất từ OneHousing và CBRE, năm 2026 được dự báo là điểm rơi của một lượng cung căn hộ kỷ lục tại Hà Nội và các vùng phụ cận. Con số 35.000 căn hộ sắp đổ bộ thị trường phần lớn tập trung tại các đại đô thị phía Đông và phía Tây thành phố, đến từ những tên tuổi lớn chuyên phát triển bất động sản hàng hiệu như Masterise Homes, MIK Group hay Sunshine Group.

Tuy nhiên, điều đáng bàn là cơ cấu của giỏ hàng này đang bị có thiên lệch lớn khi 100% nguồn cung mới đều được định vị ở phân khúc cao cấp và hạng sang.

Thực tế này cho thấy các doanh nghiệp địa ốc đang đua nhau thiết lập một mặt bằng giá mới để tối ưu hóa biên lợi nhuận trong bối cảnh quỹ đất khan hiếm và chi phí đầu vào tăng cao. Những căn hộ bình dân hay trung cấp vốn là xương sống của thị trường và là đích đến của đại đa số người lao động nay đã hoàn toàn vắng bóng.

Thay vào đó là những sản phẩm được gắn mác "hạng sang" với giá bán sơ cấp dao động từ 60 đến 80 triệu đồng mỗi mét vuông, thậm chí cao hơn tại các vị trí đắc địa.

Sự lệch pha cung cầu này đặt ra một dấu hỏi lớn về khả năng hấp thụ của thị trường. Với mức giá thiết lập mới, một căn hộ hai phòng ngủ tiêu chuẩn hiện nay có giá trị không dưới 4 tỷ đồng, trong khi các căn hộ diện tích lớn hơn dễ dàng vượt ngưỡng 5 - 6 tỷ đồng. Đây là con số nằm ngoài tầm với của phần lớn gia đình trẻ và tầng lớp trung lưu tại Hà Nội, những người có thu nhập trung bình chưa thể tăng gấp 2 - 3 lần chỉ trong vài năm ngắn ngủi như đà tăng của giá nhà.

Khảo sát của Batdongsan.com.vn cũng chỉ ra, với nhóm mua căn nhà đầu tiên, chung cư tiếp tục là loại hình phổ biến nhất với 59% người tham gia khảo sát lựa chọn. Pháp lý và uy tín chủ đầu tư là hai tiêu chí được ưu tiên cao hơn cả vị trí hay tiện ích. Điều này phản ánh tâm lý thận trọng của người mua giữa lúc giá cao và rủi ro thị trường vẫn hiện hữu.

Đáng chú ý, dù TPHCM có lợi thế hơn về nguồn cung giá thấp, khả năng mua nhà vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào thu nhập. Với nhóm thu nhập từ 30 - 50 triệu đồng, mức độ tự tin chủ yếu dừng ở mức trung bình.

Giá căn hộ cao cấp và siêu sang tăng mạnh phản ánh sức mua thực của nhóm khách hàng thu nhập cao và chuyên gia quốc tế. Nhưng mặt bằng giá 6.500 USD/m2 trong khi thu nhập bình quân của phần lớn người dân đô thị không tăng tương ứng, tiềm ẩn rủi ro phân hóa tiếp cận nhà ở.

Chỉ đến nhóm thu nhập trên 50 triệu đồng mỗi tháng, tỷ lệ người cho rằng có khả năng mua nhà mới tăng rõ rệt, khi 50% người được khảo sát tự tin và tự tin cao về khả năng mua nhà. Đây cũng là nhóm sẵn sàng vay ngân hàng với tỷ lệ hợp lý, phổ biến ở mức 30 - 50% giá trị bất động sản. Với các nhóm còn lại, họ chọn nỗ lực làm việc thêm giờ (29%), gửi tiết kiệm (26%) với mong muốn sở hữu nhà.

Ngoài ra, thị trường cũng hình thành nhóm xác định ở thuê dài hạn, chủ yếu là người độc thân, chưa có kế hoạch mua nhà trong ít nhất 5 năm, ưu tiên sự linh hoạt, chất lượng sống và kiểm soát áp lực tài chính. Nhóm này thường dành dưới 30% thu nhập cho tiền thuê nhà, xem đây là giải pháp tài chính hiệu quả hơn mua trong bối cảnh hiện tại.

Bà Phạm Thị Miền – Viện phó Viện nghiên cứu và đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE) cho rằng, khi mức giá vượt xa giá trị thực và khả năng chi trả, tệp khách hàng tiềm năng bị thu hẹp đáng kể. Nhóm người mua để ở thực sự sẽ buộc phải từ bỏ giấc mơ sở hữu nhà hoặc dạt về các vùng ven xa xôi hơn. Trong khi đó, nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính cũng đang trở nên thận trọng hơn sau những bài học đắt giá về thanh khoản và lãi suất thả nổi.

Dòng căn hộ siêu sang đòi hỏi cách tiếp cận mới

Theo ông Trần Văn Bình - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VARS nhận định xu hướng căn hộ cao cấp lên ngôi hiện nay xuất phát từ một số nguyên nhân chính. Trong đó, là sự thay đổi về nhu cầu của người mua tăng lên khi những năm gần đây, tầng lớp thượng lưu tại Việt Nam gia tăng nhanh, kéo theo nhu cầu cao hơn về chất lượng sống, dịch vụ và tiêu chuẩn căn hộ.

Điều này thúc đẩy chủ đầu tư muốn phát triển sản phẩm cao cấp hơn để đáp ứng nhóm khách hàng này. Nhiều doanh nghiệp lựa chọn phân khúc hạng sang nhằm phù hợp với xu hướng tiêu dùng và khả năng chi trả của thị trường.

Tuy nhiên ở góc độ khác, do ảnh hưởng từ các vướng mắc pháp lý kéo dài khiến chi phí dự án đội lên. Khi thời gian hoàn thiện thủ tục càng lâu, chi phí vốn càng lớn, buộc chủ đầu tư phải phát triển sản phẩm giá cao để đảm bảo lợi nhuận. Ngoài ra, chi phí đầu vào tăng mạnh, bao gồm chi phí vật liệu, nhân công, giải phóng mặt bằng, bồi thường… Tất cả những yếu tố này đẩy giá thành dự án lên cao, khiến phân khúc căn hộ hạng sang ngày càng chiếm ưu thế.

Theo chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Minh Phong, sự gia tăng của phân khúc căn hộ cao cấp trước hết xuất phát từ nhu cầu thực của người mua, khi yêu cầu về chất lượng sống, không gian ở và tiện ích ngày càng cao. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ và hệ thống tiện ích hiện đại trong các dự án cũng làm chi phí đầu tư tăng lên, từ đó đẩy giá bán căn hộ lên mức cao hơn.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Minh Phong lưu ý rằng không phải mọi sản phẩm có giá cao đều thực sự là hạng sang. Trên thực tế, khái niệm “hạng sang” đôi khi bị lạm dụng về mặt câu chữ, khi giá bán cao được mặc định đồng nghĩa với chất lượng vượt trội, trong khi nếu so sánh một cách khách quan thì nhiều dự án chỉ ở mức bình thường, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh giá vàng và nhiều loại chi phí đầu vào đã tăng mạnh trong thời gian qua. Thị trường vì vậy đang có xu hướng đánh đồng giữa căn hộ cao cấp và căn hộ hạng sang, chỉ dựa trên mức giá để gọi tên phân khúc.

TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng người mua và đội ngũ môi giới cần có sự phân biệt rõ ràng, để tránh việc coi những sản phẩm có giá cao do chi phí đầu vào là “hạng sang”, trong khi tiêu chuẩn về chất lượng, dịch vụ và trải nghiệm sống chưa thực sự tương xứng.

Việt Dương

Đọc thêm

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

(TBTCO) - Thông tin từ cuộc họp triển khai công tác ngân hàng cho thấy, về huy động vốn và cho vay, có tình trạng một số ngân hàng thương mại cạnh tranh trong huy động vốn, qua đó, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ xử nghiêm hành vi vi phạm trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng các ngân hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
Kim TT/AVPL 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,700 ▼70K 17,000 ▼120K
Nguyên Liệu 99.99 15,600 ▲100K 15,800 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,550 ▲100K 15,750 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 ▲40K 16,800 ▲40K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 ▲40K 16,750 ▲40K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 ▲40K 16,730 ▲40K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Hà Nội - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Miền Tây - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,650 ▼70K 17,000 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,650 ▼70K 17,000 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,650 ▼70K 17,000 ▼70K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 ▼70K 16,890 ▼70K
Trang sức 99.99 16,200 ▼70K 16,900 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 167 ▼1510K 17,052 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 167 ▼1510K 17,053 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,665 ▼7K 170 ▼1537K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,665 ▼7K 1,701 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,645 ▼7K 1,685 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 ▼693K 166,832 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 ▼525K 126,538 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 ▼477K 114,741 ▼477K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 ▼427K 102,945 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 ▼408K 98,395 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 ▼291K 70,422 ▼291K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Cập nhật: 17/04/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18319 18595 19176
CAD 18685 18963 19576
CHF 32954 33340 33993
CNY 0 3800 3870
EUR 30374 30649 31677
GBP 34788 35181 36115
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15179 15770
SGD 20139 20422 20950
THB 736 800 853
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26156 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,568 30,592 31,866
JPY 161.15 161.44 170.21
GBP 35,048 35,143 36,156
AUD 18,558 18,625 19,224
CAD 18,910 18,971 19,559
CHF 33,284 33,388 34,179
SGD 20,311 20,374 21,048
CNY - 3,796 3,919
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.45 17.16 18.56
THB 786.54 796.25 847.07
NZD 15,202 15,343 15,703
SEK - 2,823 2,906
DKK - 4,090 4,210
NOK - 2,771 2,853
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,236.22 - 6,999.65
TWD 754.77 - 909.08
SAR - 6,916.66 7,247.49
KWD - 83,908 88,762
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,437 30,559 31,744
GBP 34,963 35,103 36,113
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 33,019 33,152 34,092
JPY 161.34 161.99 169.27
AUD 18,502 18,576 19,170
SGD 2,032,200 20,404 20,988
THB 802 805 841
CAD 18,866 18,942 19,516
NZD 15,247 15,780
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26357
AUD 18498 18598 19524
CAD 18863 18963 19978
CHF 33200 33230 34817
CNY 3799.9 3824.9 3960.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30559 30589 32311
GBP 35088 35138 36890
HKD 0 3355 0
JPY 161.75 162.25 172.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15288 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20294 20424 21155
THB 0 766.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16800000 16800000 17250000
SBJ 15000000 15000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/04/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80