Phát huy hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng

Hà Phương
(TBTCO) - Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 115-KL/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng đầu tư xã hội bình quân 5 năm đạt khoảng 40% GDP, tỷ lệ đầu tư công chiếm 20 - 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP...
aa

Chính phủ ra Nghị quyết số 12/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 115-KL/TW ngày 16/1/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị khóa XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Phát huy hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng
Đến năm 2030, hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn. Ảnh minh họa.

Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt khoảng 8,5%/năm

Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt khoảng 8,5%/năm. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; có khả năng cung cấp nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao cho khu vực và thế giới. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực phi chính thức giảm xuống dưới 40%. Tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%.

Bảo đảm vững chắc mức sinh thay thế của quốc gia. Tuổi thọ bình quân đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,78.

Đến năm 2030, hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối với khu vực và thế giới...

Đến năm 2030, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP

Về kinh tế, Chương trình nêu rõ mục tiêu bảo đảm an toàn, an ninh tài chính quốc gia. Nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định của Quốc hội.

Mục tiêu đến năm 2030, tổng đầu tư xã hội bình quân 5 năm đạt khoảng 40% GDP, tỷ lệ đầu tư công chiếm 20 - 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 58% GDP. Quy mô doanh thu của ngành bảo hiểm đạt 3,3 - 3,5% GDP. Tổng mức dự trữ quốc gia đạt 0,5% GDP.

Chương trình đặt mục tiêu số lượng doanh nghiệp được xếp vào danh sách doanh nghiệp có giá trị thương hiệu cao nhất của các tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới tăng 10% mỗi năm. Đến năm 2030, tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số đạt tương đương các nước phát triển.

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%. Chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Phấn đấu thuộc nhóm 50 quốc gia đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số. Kinh tế dữ liệu tăng gấp 3 lần tăng trưởng GDP. Tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Tỷ trọng công nghiệp công nghệ số trong GDP tối thiểu 8%. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%. Tổng thu du lịch khoảng 13 - 14% GDP.

Hoàn thiện thể chế, kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện các nhóm nhiệm vụ, giải pháp.

Một là, tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, bảo đảm phù hợp với đường lối phát triển nhanh, bền vững của đất nước, thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp với Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thể chế phải được xây dựng đồng bộ cả ở phương diện tháo gỡ các điểm nghẽn trong phát triển và kiến tạo động lực tăng trưởng mới, với mục tiêu huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nhất mọi nguồn lực từ Nhà nước, xã hội và người dân cho sự nghiệp phát triển đất nước. Có cơ chế, chính sách hữu hiệu để người dân tin tưởng, an tâm bỏ vốn đầu tư, kinh doanh thay vì tích trữ vàng; hạn chế đầu cơ đất đai, bất động sản.

Hai là, thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các luật, pháp lệnh đã được ban hành. Chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cải cách thể chế hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch, hiện đại; chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" trong quản lý nhà nước. Pháp luật phải bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, ổn định, khả thi và có tầm nhìn chiến lược dài hạn.

Kiên quyết xóa bỏ tư duy "không quản được thì cấm", khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật; mỗi vấn đề, mỗi nội dung chỉ quy định tại một luật duy nhất.

Ba là, tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, năng lực điều hành và khả năng kiến tạo phát triển. Tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.

Bốn là, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế trên cơ sở luật hóa các cơ chế, chính sách đặc thù, các mô hình thí điểm đã được kiểm nghiệm hiệu quả; đồng thời nghiên cứu mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng phù hợp với thực tiễn phát triển và yêu cầu đổi mới sáng tạo trong từng lĩnh vực, địa phương.

Năm là, đổi mới toàn diện công tác quy hoạch theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, bền vững, gắn kết giữa các ngành, các vùng, các cấp và giữa quy hoạch với kế hoạch phát triển.

Sáu là, rà soát, kiểm kê, đánh giá và cập nhật đầy đủ các nguồn lực của nền kinh tế, bao gồm cả nguồn lực vật chất và phi vật chất, truyền thống và hiện đại; xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa, liên thông, đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn trong quản lý, dự báo, theo dõi, giám sát việc sử dụng nguồn lực, phục vụ quá trình hoạch định và điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn phát triển.

Bảy là, xử lý dứt điểm các vướng mắc, tồn đọng làm chậm đưa nguồn lực vào sử dụng, như quy hoạch treo, dự án ách tắc thủ tục, đất công bỏ hoang, tài sản tranh chấp, vụ việc tồn đọng.../.

Hà Phương

Đọc thêm

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

(TBTCO) - Để đón đầu sự phát triển của thị trường kinh tế tầm thấp được dự báo đạt tỷ USD, Đà Nẵng sẵn sàng rót ngân sách, kiến tạo bệ phóng hạ tầng, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách. Đây là nỗ lực nhằm tạo động lực phát triển mới cho địa phương.
Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các động lực chính cùng vận hành, sức chống chịu được cải thiện. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng tốc, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm và bài toán ổn định vĩ mô cũng khó hơn.
Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Bùi Minh Giáp - Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam không nên lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô, mà cần theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế và đẩy mạnh cải cách thể chế. Việt Nam vẫn có thể theo đuổi tăng trưởng cao mà không phải đánh đổi ổn định vĩ mô, nếu lựa chọn đúng chính sách.
Mở rộng kênh vốn, nâng kỷ luật thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Mở rộng kênh vốn, nâng kỷ luật thị trường trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Nghị định số 200/2026/NĐ-CP mở rộng hành lang huy động và sử dụng vốn cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao yêu cầu về quản trị dòng tiền, công bố thông tin, giám sát sau phát hành và bảo vệ nhà đầu tư. Những quy định mới được cơ quan quản lý, công ty chứng khoán và doanh nghiệp kỳ vọng sẽ góp phần khơi thông nguồn vốn trung, dài hạn, từng bước củng cố niềm tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.
Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng

Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng

(TBTCO) - ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, để Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong thu hút FDI thế hệ mới, điều quan trọng nhất là phải chuyển nhanh các định hướng của Nghị quyết thành các chính sách cụ thể, có tính khả thi và có cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ.
Bước tiến mới trong minh bạch hóa nền kinh tế Việt Nam

Bước tiến mới trong minh bạch hóa nền kinh tế Việt Nam

(TBTCO) - Minh bạch chủ sở hữu hưởng lợi không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, mà còn là đòi hỏi nội tại của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Quy định chính thức đưa thông tin chủ sở hữu hưởng lợi vào hệ thống đăng ký doanh nghiệp từ ngày 1/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, góp phần nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư, tăng hiệu quả quản trị doanh nghiệp và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền, quản lý thuế cũng như bảo đảm tính liêm chính của thị trường.
Phạt tới 200 triệu đồng với vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

Phạt tới 200 triệu đồng với vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

(TBTCO) - Từ ngày 1/9/2026, chào bán, phát hành tài sản mã hóa cho đối tượng không đúng quy định hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép sẽ bị phạt tới 200 triệu đồng, theo quy định tại Nghị định số 284/2026/NĐ-CP.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Xem thêm