Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%, kiểm soát nợ xấu dưới 1,6% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn, hướng tới trở thành ngân hàng lớn - mạnh - xanh hàng đầu Đông Nam Á, sớm lọt top châu Á. BIDV cũng triển khai nhiều cổ phần, đẩy mạnh tăng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng, cải thiện hệ số CAR.
aa

BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10% Đại hội đồng cổ đông BIDV: Dồn lực tăng vốn trên 90 nghìn tỷ đồng, sẵn sàng ứng phó tác động thuế quan

“Big 4” dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Ngày 22/4, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - Mã: BID) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026. Đại hội ghi nhận sự tham dự của 367 đại biểu, đại diện cho gần 6,8 tỷ cổ phần có quyền biểu quyết, chiếm 96,6% số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội đã xem xét và thống nhất thông qua các nội dung quan trọng như: báo cáo kết quả hoạt động năm 2025 và trọng tâm hoạt động năm 2026; phương án tăng vốn điều lệ năm 2026 nhằm nâng cao năng lực tài chính cho BIDV; bầu bổ sung Thành viên Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2022 - 2027…

Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng
BIDV tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên.

Năm 2026, BIDV đặt ra mục tiêu trở thành ngân hàng lớn - mạnh - xanh hàng đầu khu vực Đông Nam Á; thuộc Top 100 ngân hàng Châu Á, tầm nhìn đến 2045 thuộc top 50 ngân hàng Châu Á.

Theo kế hoạch, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10% trong năm 2026; dư nợ tín dụng điều hành theo hạn mức được cấp, còn lợi nhuận trước thuế thực hiện theo phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng cũng duy trì tỷ lệ nợ xấu không vượt 1,6% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn theo quy định.

Trong 6 định hướng hoạt động và trọng tâm công tác năm 2026, Hội đồng quản trị BIDV đặc biệt nhấn mạnh việc quyết liệt triển khai các phương án tăng vốn điều lệ, vốn tự có nhằm nâng cao năng lực tài chính, cải thiện hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR).

Cùng với đó, gia tăng huy động vốn ngay từ đầu năm, tập trung cải thiện tỷ lệ huy động vốn không kỳ hạn hiệu quả, bền vững.

Thực hiện tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế, vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, đẩy mạnh thu hồi và xử lý nợ xấu, nợ tiềm ẩn, nợ hạch toán ngoại bảng.

Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng
Nguồn: BIDV.

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2025, BIDV ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 28.445 tỷ đồng, sau điều chỉnh do thay đổi lợi nhuận năm trước, nâng lên 28.459 tỷ đồng. Phần lợi nhuận còn lại sau trích lập và chênh lệch đánh giá ngoại tệ đạt khoảng 13.205 tỷ đồng và được đề xuất sử dụng toàn bộ để chia cổ tức bằng cổ phiếu theo phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.

Tính đến cuối năm 2025, vốn điều lệ của BIDV là 70.213,6 tỷ đồng. Gần nhất, ngày 15/1/2026, Hội đồng quản trị BIDV đã phê duyệt phát hành 264 triệu cổ phiếu riêng lẻ cho 33 nhà đầu tư chuyên nghiệp, uy tín trong và ngoài nước như: SCIC, Dragon Capital, KIM, SSIAM…, với tổng số tiền thu về là 10.272 tỷ đồng.

Nếu hoàn tất toàn bộ các phương án đã trình, bao gồm cả kế hoạch chia cổ tức năm 2025, vốn điều lệ của BIDV dự kiến xấp xỉ 100.000 tỷ đồng, qua đó, gia nhập top ngân hàng có quy mô vốn top đầu.

Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại ĐHĐCĐ BIDV, cổ đông tập trung vào các vấn đề chính, xoay quanh bối cảnh vĩ mô và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Trong đó, nhiều ý kiến quan tâm đến tác động của giá dầu đối với tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá và triển vọng kinh tế năm 2026, đặc biệt ở các ngành nhạy cảm. Đồng thời, đặt vấn đề về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), tiến độ tăng vốn của BIDV, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) và các giải pháp cân đối nguồn vốn.

Cổ đông cũng yêu cầu lãnh đạo ngân hàng cập nhật kết quả kinh doanh quý I/2026 và làm rõ chiến lược trở thành ngân hàng lớn - mạnh - xanh; định hướng tăng trưởng trong bối cảnh điều hành thận trọng, cùng với đó là vấn đề xung quanh lãi suất, chi phí vốn và xu hướng biên lãi ròng (NIM)...

Trả lời cổ đông, ông Lê Ngọc Lâm - Tổng giám đốc BIDV cho biết, hệ số CAR theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tối thiểu 8%, hiện BIDV đang duy trì hệ số CAR ở mức khoảng 9%.

“Với tốc độ tăng trưởng của tài sản có trong năm 2026, chúng tôi sẽ phải tăng theo tương ứng. Có những kế hoạch chúng tôi đưa ra có thể làm kịp trong năm nay, có thể có độ trễ sang đầu năm sau chẳng hạn, phụ thuộc rất nhiều yếu tố” - Tổng giám đốc BIDV nêu rõ.

Theo đó, kế hoạch tăng vốn phụ thuộc tiến độ phê duyệt của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, một số quy định bắt buộc cũng ảnh hưởng đến tiến độ, chẳng hạn như phát hành riêng lẻ phải cách nhau tối thiểu 6 tháng giữa các đợt.

Lãnh đạo BIDV cho biết, nếu thành công cả ba đợt phát hành, vốn điều lệ của BIDV dự kiến tăng lên xấp xỉ 100.000 tỷ đồng, qua đó, nâng hệ số CAR lên tối thiểu 9,5% và hướng tới mức khoảng 10% vào năm sau.

Cập nhật kết quả kinh doanh quý I/2026, theo ông Lâm, dư nợ tín dụng đạt 2,38 triệu tỷ đồng, tăng 2,38% so với đầu năm và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước.

Huy động vốn đạt 2,43 triệu tỷ đồng, trong bối cảnh huy động vẫn khá căng thẳng đối với các tổ chức tín dụng, quy mô gần như đi ngang so với đầu năm, nhưng tăng 11,7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế riêng lẻ đạt 8.254 tỷ đồng, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước./.

Bứt phá quy mô và lợi nhuận, hoàn thành vượt kế hoạch

Tính đến hết 31/12/2025, các chỉ tiêu kinh doanh của BIDV đều đạt kế hoạch Ngân hàng Nhà nước và ĐHĐCĐ giao. Theo đó, tổng tài sản đạt trên 3,26 triệu tỷ đồng, tăng 20,5% so với năm 2024, tiếp tục là ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô tổng tài sản lớn nhất Việt Nam. Dư nợ tín dụng và đầu tư đạt trên 3,09 triệu tỷ đồng; trong đó dư nợ tín dụng đạt trên 2,32 triệu tỷ đồng, tăng 15,2% so với năm 2024, chiếm 12,5% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế, đứng đầu về thị phần cho vay tổ chức kinh tế và dân cư trong khối ngân hàng thương mại cổ phần. Tỷ lệ nợ xấu theo kiểm soát ở mức 1,26%, hoàn thành kế hoạch ĐHĐCĐ giao.

Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 37.788 tỷ đồng, tăng 17,8% so với năm 2024; trích dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 17/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.254 đồng, tăng 11 đồng so với phiên trước và nối dài chuỗi tăng trong tuần. Trái lại, giá USD tại nhiều ngân hàng tiếp tục đi ngang nhiều phiên liên tiếp. Chỉ số DXY tăng 0,21% lên 100,7 điểm, được hỗ trợ bởi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang và kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
NL 99.99 12,910 ▼90K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,860 ▼90K
Trang sức 99.9 13,810 ▼70K 14,510 ▼70K
Trang sức 99.99 13,820 ▼70K 14,520 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 ▼3K 14,722 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 ▼3K 14,723 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,427 ▲1284K 1,462 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,427 ▲1284K 1,463 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,397 ▲1257K 1,442 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,772 ▼297K 142,772 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,511 ▼225K 108,311 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,416 ▲79554K 98,216 ▲88374K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,321 ▼183K 88,121 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,427 ▼175K 84,227 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,487 ▼126K 60,287 ▼126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Cập nhật: 20/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18133 18706
CAD 18237 18513 19129
CHF 31925 32306 32947
CNY 0 3841 3934
EUR 29453 29674 30748
GBP 34590 34982 35922
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 19833 20114 20680
THB 697 760 813
USD (1,2) 26025 0 0
USD (5,10,20) 26066 0 0
USD (50,100) 26095 26109 26468
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,577 29,601 31,013
JPY 157.55 157.83 167.35
GBP 34,765 34,859 36,062
AUD 18,007 18,072 18,651
CAD 18,424 18,483 19,162
CHF 32,170 32,270 33,219
SGD 19,955 20,017 20,803
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,287 3,297 3,435
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.66 754.87 808.12
NZD 15,069 15,209 15,660
SEK - 2,679 2,774
DKK - 3,957 4,096
NOK - 2,684 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.36 - 6,785.05
TWD 732.78 - 887.08
SAR - 6,883.63 7,249.97
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26470
AUD 18022 18122 19045
CAD 18412 18512 19527
CHF 32134 32164 33746
CNY 3819.2 3844.2 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29611 29641 31364
GBP 34859 34909 36677
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19977 20107 20840
THB 0 725.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,116 26,166 26,490
USD20 26,116 26,166 26,490
USD1 26,116 26,166 26,490
AUD 18,084 18,184 19,289
EUR 29,426 29,526 31,183
CAD 18,365 18,465 19,772
SGD 20,061 20,211 20,830
JPY 158.91 160.41 165.95
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80