Giải quyết tận gốc điểm nghẽn về tư duy và cách thức quản lý doanh nghiệp nhà nước
Thực tiễn phát triển doanh nghiệp nhà nước thời gian qua cho thấy, dù giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, khu vực này đang bộc lộ rõ những giới hạn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng dẫn dắt.
Theo bà Nguyễn Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính), dù số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm mạnh qua các giai đoạn sắp xếp, cổ phần hóa và cơ cấu lại, doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn nắm giữ một khối lượng lớn nguồn lực của nền kinh tế, với khoảng 13% vốn chủ sở hữu và 20% tổng tài sản toàn bộ khu vực doanh nghiệp, đóng góp khoảng 12,5% GDP và hơn 27% thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, kết quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp chưa tương xứng với nguồn lực được giao; vai trò dẫn dắt, tạo chuỗi liên kết và lan tỏa sang khu vực kinh tế khác còn hạn chế; đổi mới quản trị doanh nghiệp chậm; tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn chưa đạt yêu cầu; một số doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, gây lãng phí nguồn lực và chưa được xử lý dứt điểm.
![]() |
| Trang trại điện gió ngoài khơi Bạc Liêu, Cà Mau. Ảnh: Đức Thanh |
Những tồn tại này phản ánh rõ một thực tế, các chủ trương, chính sách về doanh nghiệp nhà nước thời gian qua, dù đã tạo ra những chuyển biến nhất định, nhưng vẫn chưa giải quyết tận gốc các điểm nghẽn về tư duy, thể chế và phương thức quản lý.
Nghị quyết số 12-NQ/TW năm 2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, với cách tiếp cận đặt doanh nghiệp nhà nước như là trung tâm gần như duy nhất của kinh tế nhà nước. Trong khi đó, thực tiễn cho thấy những hạn chế của doanh nghiệp nhà nước không chỉ nằm ở bản thân doanh nghiệp, mà còn gắn chặt với cách thức Nhà nước quản lý, phân bổ và sử dụng tổng thể các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước.
Nhìn từ góc độ chuyên gia, TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, những hạn chế nêu trên phản ánh một thực tế căn bản hơn: khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện còn quá nhiều đầu mối, quy mô phân tán, trong khi lại chưa được trao đủ điều kiện để phát triển theo đúng nguyên tắc thị trường. Theo ông, dù doanh nghiệp nhà nước là “chủ đạo” nhưng nếu vẫn bị hành chính hóa, thiếu tự chủ trong quyết định đầu tư, kinh doanh, thì vai trò dẫn dắt chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Mở ra “hệ sinh thái nguồn lực” cho kinh tế nhà nướcNghị quyết 79-NQ/TW đã mở ra một “hệ sinh thái nguồn lực” cho kinh tế nhà nước. Trong đó, kinh tế biển phải là cấu phần quan trọng của kinh tế nhà nước; ưu tiên điện gió ngoài khơi và cảng lưỡng dụng. Đặc biệt, ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để phát triển kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp. Quy hoạch tích hợp không gian ngầm với đô thị. Đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia trở thành nguồn lực chiến lược, thúc đẩy sàn giao dịch dữ liệu. Nghị quyết cũng yêu cầu đến hết năm 2026 phải hoàn thành số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai toàn quốc. Trong năm 2026, hoàn thành ban hành Luật Đất đai sửa đổi để khơi thông nguồn lực. |
Từ thực tiễn đó, TS. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh cần tái cơ cấu mạnh mẽ, thu hẹp đầu mối, chỉ giữ lại số lượng doanh nghiệp nhà nước tinh gọn hơn nhưng có quy mô và năng lực đủ lớn để thực sự dẫn dắt các ngành, lĩnh vực then chốt.
Những đánh giá từ thực tiễn quản lý và từ giới chuyên gia cho thấy, vấn đề của doanh nghiệp nhà nước không chỉ nằm ở từng doanh nghiệp cụ thể, mà gắn chặt với cách thức Nhà nước quản lý, phân bổ và sử dụng tổng thể các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW ra đời với một cách nhìn rộng hơn và căn bản hơn. Điểm nổi bật của nghị quyết là lần đầu tiên xác định rõ kinh tế nhà nước là tổng thể các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, bao gồm đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Cách tiếp cận này trực tiếp giải quyết mâu thuẫn mà thực tiễn doanh nghiệp nhà nước đang đặt ra, đồng thời tạo điều kiện để khu vực này phát huy vai trò trong một hệ sinh thái nguồn lực rộng lớn hơn.
Đổi mới quản trị, đánh giá hiệu quả theo nguyên tắc thị trường
Ý nghĩa quan trọng của Nghị quyết 79 còn nằm ở việc chuyển mạnh tư duy từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Những hạn chế về tính chủ động, năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhà nước, như đã được phân tích lâu nay, có nguyên nhân sâu xa từ cơ chế phân cấp, phân quyền và cách thức quản lý vốn, tài sản nhà nước.
Việc nghị quyết nhấn mạnh tách bạch chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế và chức năng thực hiện nhiệm vụ chính trị chính là cơ sở chính trị để tháo gỡ những rào cản này, giúp doanh nghiệp nhà nước vận hành theo nguyên tắc thị trường, đồng thời thực hiện tốt vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt, thiết yếu. Điều này đã trực tiếp giải quyết kiến nghị của các chuyên gia về việc phải để doanh nghiệp nhà nước tự chủ hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường
Không chỉ giải quyết bài toán quản trị của doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết số 79 còn có ý nghĩa lớn trong việc khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhà nước. Những thách thức được chỉ ra trong thực tiễn, như nguồn lực, vốn và tài sản chưa được khơi thông, hiệu quả đầu tư chưa cao, tình trạng lãng phí, thất thoát kéo dài, đòi hỏi phải có một khuôn khổ chính sách mới để quản lý, hạch toán và đánh giá đầy đủ các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường. Nghị quyết số 79 đã đặt ra yêu cầu rà soát, thống kê, hạch toán đầy đủ các nguồn lực kinh tế nhà nước, gắn với phân tích lợi ích - chi phí xã hội theo thông lệ quốc tế, qua đó nâng cao kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả sử dụng tài sản công .
Ở tầm chiến lược, sự ra đời của Nghị quyết số 79-NQ/TW còn xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, với mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Những hạn chế kéo dài của doanh nghiệp nhà nước, nếu không được xử lý trong một khuôn khổ chính sách toàn diện, sẽ trở thành lực cản đối với mục tiêu này. Nghị quyết số 79 vì vậy không chỉ là một nghị quyết về doanh nghiệp nhà nước, mà là một văn kiện nền tảng nhằm tái cấu trúc cách thức Nhà nước huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực của mình để dẫn dắt phát triển.
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 79-NQ/TW là kết quả tất yếu của quá trình tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong nhiều năm qua, đồng thời tiếp thu những đánh giá thẳng thắn từ thực tiễn quản lý và giới chuyên gia. Sự ra đời của nghị quyết không chỉ đáp ứng yêu cầu cấp bách từ thực tiễn doanh nghiệp nhà nước, mà còn mở ra một cách tiếp cận mới, toàn diện và dài hạn đối với kinh tế nhà nước.
Đây chính là nền tảng chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo dư địa cho doanh nghiệp nhà nước phát triển đúng vai trò, đồng thời khơi thông và phát huy hiệu quả các nguồn lực quốc gia trong chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.

