Dòng vốn đổ mạnh vào bất động sản, VCBS cảnh báo rủi ro tập trung và nợ xấu kéo theo

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo dự báo của Chứng khoán Vietcombank (VCBS), tăng trưởng tín dụng năm 2026 có thể đạt 16 - 18%, trong đó bất động sản tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng. Tuy nhiên, VCBS cảnh báo rủi ro nợ xấu tiềm ẩn khi tiêu chuẩn cho vay được nới lỏng, lượng lớn tín dụng bất động sản đã giải ngân trong năm 2025 và tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng tăng mạnh, có nơi vượt 30%, làm gia tăng rủi ro tập trung.
aa
Tăng trưởng tín dụng 2026: Giới hạn "van" bất động sản, ngân hàng "vượt rào" sẽ bị trừ room Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản "Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản

Trong báo cáo ngành ngân hàng 2026 với tựa đề: "Vững nhịp tăng trưởng" vừa phát hành, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể đạt khoảng 16 - 18%, cao hơn mức mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước.

Động lực chính đến từ chính sách tiền tệ tiếp tục duy trì nới lỏng với lãi suất điều hành ở mức thấp nhằm kích thích nhu cầu tín dụng, trong đó các động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ đầu tư công, bất động sản và khu vực kinh tế tư nhân.

Cùng với đó, cầu tín dụng hồi phục rõ nét hơn, đặc biệt tại phân khúc tiêu dùng và cho vay mua nhà với kỳ hạn dài.

Thị trường bất động sản cùng hoạt động sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công được kỳ vọng tiếp tục duy trì tăng trưởng khả quan trong giai đoạn cuối năm 2025 và năm 2026. Đầu tư công tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng kinh tế, trong khi việc tháo gỡ pháp lý bất động sản tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đối với các nhóm ngành xây dựng và vật liệu xây dựng.

Xét theo nhóm ngân hàng, nhóm ngân hàng tư nhân năng động được kỳ vọng dẫn dắt tăng trưởng tín dụng với mức trên 20%, trong khi các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ tiếp tục được hưởng cơ chế ưu tiên với hạn mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức trung bình ngành.

Trong kịch bản Ngân hàng Nhà nước bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước bãi bỏ cơ chế hạn mức tín dụng từ năm sau, các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) cao như: VPBank, Techcombank và HDBank có thể ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng vượt trội so với mặt bằng chung.

Bên cạnh đó, những ngân hàng có danh mục cho vay hướng đến các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, bán lẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhà ở xã hội như: HDBank, VIB, Techcombank và ACB sẽ được điều chỉnh giảm hệ số rủi ro (CRW) của các khoản vay này theo Thông tư số 14/2025/TT-NHNN, qua đó có thêm dư địa mở rộng tín dụng.

"Tăng trưởng tín dụng sẽ chậm hơn và có chọn lọc hơn so với năm 2025 khi Ngân hàng Nhà nước tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và tập trung vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh" - VCBS nhận định.

Đánh giá rủi ro nợ xấu tiềm ẩn đối với hệ thống ngân hàng trong năm 2026, nhóm phân tích VCBS lưu ý việc nới lỏng tiêu chuẩn cho vay, trong đó một lượng lớn tín dụng liên quan đến bất động sản đã được giải ngân trong năm 2025.

Cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu nội bảng giảm nhẹ xuống 2% từ mức 2,04% cuối quý II/2025, trong đó nợ xấu chủ yếu đến từ các khoản vay liên quan đến bất động sản và các khoản vay tiêu dùng thế chấp bằng bất động sản.

Dòng vốn đổ mạnh vào bất động sản, VCBS cảnh báo rủi ro tập trung và nợ xấu kéo theo
Nguồn: VCBS.

Cũng theo thống kê của VCBS, cuối quý III/2025, dư nợ tín dụng cho kinh doanh bất động sản đạt hơn 1,82 triệu tỷ đồng, tăng 35% so với đầu năm và chiếm 10,1% tổng dư nợ của nền kinh tế. Trong đó, tín dụng tăng mạnh ở nhóm doanh nghiệp phát triển bất động sản, tăng 39,88% so với đầu năm và đã vượt qua nhóm khách hàng cá nhân vay xây dựng, sửa chữa để bán. Dòng tiền bất động sản trong giai đoạn vừa qua phần lớn tập trung vào mục đích kinh doanh, giữa chủ đầu tư và người mua thứ cấp.

Trong bối cảnh nhu cầu vay phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng còn yếu, đặc biệt trong nửa đầu năm, các ngân hàng tư nhân năng động với hệ sinh thái doanh nghiệp lớn đã đẩy nhanh tín dụng liên quan đến bất động sản như: Nam A Bank, Techcombank...

Cùng với đó, tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng tăng mạnh trong 9 tháng 2025, với một số ngân hàng ghi nhận tỷ lệ trên 30%, làm gia tăng rủi ro tập trung, nguy cơ nợ xấu khi thị trường suy yếu, khó khăn trong xử lý tài sản bảo đảm và tiềm ẩn rủi ro thanh khoản, đặc biệt đối với các ngân hàng quy mô nhỏ do các khoản vay bất động sản thường có kỳ hạn dài.

Bên cạnh đó, các khoản vay mua nhà với lãi suất ưu đãi trong giai đoạn trước khi hết thời gian ưu đãi và chuyển sang lãi suất thả nổi sẽ làm tăng áp lực trả nợ của khách hàng, có thể làm giảm sức mua bất động sản và gia tăng rủi ro nợ xấu tại một số ngân hàng. Ngoài ra, một số nhóm khách hàng sản xuất kinh doanh có thể chịu tác động tiêu cực từ các yếu tố như thuế quan và thiên tai, bão lũ. Tuy vậy, tỷ lệ nợ xấu được kỳ vọng vẫn nằm trong tầm kiểm soát./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh quý II năm 2026 (trước soát xét), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đạt 32.004 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17958 18232 18814
CAD 18215 18491 19107
CHF 31872 32253 32910
CNY 0 3853 3946
EUR 29691 29912 30999
GBP 34621 35014 35954
HKD 0 3223 3425
JPY 161 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15177 15770
SGD 19989 20272 20848
THB 704 767 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,738 29,762 31,172
JPY 163.62 163.92 173.82
GBP 34,804 34,898 36,105
AUD 18,159 18,225 18,919
CAD 18,396 18,455 19,139
CHF 32,153 32,253 33,219
SGD 20,106 20,169 20,967
CNY - 3,819 3,965
HKD 3,285 3,295 3,433
KRW 16.95 17.68 19.23
THB 751.85 761.14 814.84
NZD 15,158 15,299 15,755
SEK - 2,719 2,815
DKK - 3,989 4,130
NOK - 2,725 2,822
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.36 - 6,792.46
TWD 735.69 - 891.17
SAR - 6,880.63 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26500
AUD 18142 18242 19173
CAD 18392 18492 19503
CHF 32106 32136 33726
CNY 3835.9 3860.9 3996.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29870 29900 31628
GBP 34919 34969 36738
HKD 0 3355 0
JPY 164.68 165.18 175.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15289 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20152 20282 21003
THB 0 733.8 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13700000 13700000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80