Giữ cân bằng giữa kích thích kinh tế và ổn định vĩ mô

Hoàng Yến
(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, điều kiện tiên quyết để có tăng trưởng cao, bền vững là phải giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo động lực cho tăng trưởng dài hạn. Nếu để mất ổn định kinh tế vĩ mô thì sẽ mất cả tăng trưởng lẫn ổn định vĩ mô. Đây là kiến nghị được nêu tại cuộc tọa đàm tham vấn ý kiến chuyên gia về tình hình kinh tế - xã hội do Ủy ban Kinh tế và Tài chính tổ chức sáng 5/9 tại Nhà Quốc hội.
aa

Kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Tại cuộc tọa đàm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, TS. Nguyễn Bích Lâm cho rằng, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Song, trước làn sóng cạnh tranh toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, những thành quả đạt được đang phải đối mặt với thách thức mới.

Trong bối cảnh hiện nay, TS. Nguyễn Bích Lâm đề xuất mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần hướng tới chuyển đổi và nâng cao chất lượng tăng trưởng từ chiều rộng dựa vào vốn và lao động giá rẻ sang chiều sâu dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng sẽ đẩy nhanh sự hình thành các ngành kinh tế có hàm lượng công nghệ và tri thức cao - động lực quan trọng nhất để nâng cao năng suất lao động; tạo dựng mạng lưới doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu; thúc đẩy dịch chuyển lao động sang khu vực có năng suất cao hơn.

Giữ cân bằng giữa kích thích kinh tế và ổn định vĩ mô

Ổn định tỷ giá hối đoái để thúc đẩy thương mại và đầu tư nước ngoài. Ảnh tư liệu

Nhìn lại giai đoạn vừa qua, TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) chỉ ra, kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi về tăng trưởng trong giai đoạn 2021 - 2024, nhưng các chỉ số "trung gian" lại có dấu hiệu suy giảm so với giai đoạn 2016 - 2020.

Cụ thể, số lao động có việc làm trong nền kinh tế giảm đáng kể, chưa phục hồi về mức trước dịch. Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2021 - 2024 hầu như không có sự chuyển dịch đáng kể. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư trên GDP có xu hướng giảm từ 34,8% năm 2020 xuống còn 32,07% năm 2024. Đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước giảm mạnh, trong khi đầu tư nhà nước và FDI tăng lên. Phân bổ vốn đầu tư chưa hợp lý, với đầu tư vào các ngành như vận tải kho bãi và "hoạt động khác" tăng mạnh trong khi đầu tư cho khoa học, công nghệ ở mức thấp và có xu hướng giảm.

Chính sách hỗ trợ tăng trưởng phải đặt trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô

Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, 7 tháng đầu năm 2025 cho thấy hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam đã và đang đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế, thông qua việc duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý, hạ lãi suất, đa dạng hóa kênh huy động vốn và từng bước cải thiện tính minh bạch của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - tài chính quốc tế biến động nhanh, lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao, áp lực tỷ giá và rủi ro nợ xấu gia tăng đòi hỏi Việt Nam phải thận trọng trong điều hành và kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

Để hệ thống tài chính thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững, cần song song triển khai các giải pháp ngắn hạn nhằm duy trì thanh khoản, kiểm soát lạm phát và định hướng tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiên trì các mục tiêu trung hạn như phát triển thị trường vốn lành mạnh, tăng tỷ trọng tín dụng xanh, mở rộng bao trùm tài chính và nâng cao năng lực chống chịu của toàn hệ thống trước các cú sốc bên ngoài.

Mọi chính sách hỗ trợ tăng trưởng phải đặt trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm kỷ luật thị trường, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn.

Một số chỉ số đo lường chất lượng tăng trưởng đi xuống như đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2021 - 2023 chỉ đạt 39,5%, thấp hơn giai đoạn 2016 - 2020. Tốc độ tăng năng suất lao động cũng giảm và hệ số ICOR (hệ số sử dụng vốn) lại cao hơn.

Đáng lưu ý là các đầu tàu kinh tế lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đều đang gặp vấn đề như tăng trưởng suy giảm, phân bổ vốn chưa hợp lý, hiệu quả…

Để giải quyết những tồn tại này, TS. Nguyễn Đình Cung kiến nghị trong giai đoạn tới, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô phải là giải pháp đầu tiên và tiên quyết. “Cần tạo áp lực và động lực cho tăng trưởng dài hạn bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa một cách hợp lý, buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm cách tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” - ông nhấn mạnh.

Mục tiêu cao nhất là thúc đẩy tăng trưởng dài hạn

Đây cũng là vấn đề PGS.TS Phạm Thế Anh - Trưởng Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đề cập. Theo ông Phạm Thế Anh, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, ít nhất là 8% cho năm 2025 và 2 con số trong những năm tiếp theo, điều kiện tiên quyết là phải giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, thể hiện qua 4 chỉ tiêu định lượng.

Đó là giữ được lạm phát ở mức thấp để đảm bảo đời sống cho người lao động; tránh để giá bất động sản tăng phi mã gây ra nhiều hệ lụy kinh tế và xã hội; ổn định tỷ giá hối đoái để thúc đẩy thương mại và đầu tư nước ngoài, kiểm soát lạm phát và an toàn nợ nước ngoài; đảm bảo tính bền vững của nợ công.

“Ổn định kinh tế vĩ mô là để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, tăng trưởng lành mạnh, dựa trên khoa học công nghệ, mở rộng chất lượng và số lượng nhân tố sản xuất, từ đó đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu để mất ổn định kinh tế vĩ mô thì có thể mất cả tăng trưởng lẫn ổn định kinh tế vĩ mô” - PGS.TS Phạm Thế Anh nêu rõ. Trong đó, ông nhấn mạnh không nên dùng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt là liên tục trong thời gian dài. Bởi, lý thuyết cũng như thực tiễn thế giới cho thấy, điều này chắc chắn sẽ gây mất ổn định kinh tế vĩ mô.

“Nhiệm vụ chính của chính sách tiền tệ là bình ổn nền kinh tế, tức là chủ động nới lỏng khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, khó khăn và thắt chặt khi nền kinh tế tăng trưởng nóng, khi có dấu hiệu mất ổn định kinh tế vĩ mô” - theo ông Phạm Thế Anh.

Đối với chính sách tài khóa, mục tiêu cao nhất là phải thúc đẩy được tăng trưởng trong dài hạn và bảo đảm tính bền vững của nợ công, thể hiện qua sự ổn định của quy mô nợ công trong mối tương quan với GDP và khả năng thu thuế của Chính phủ.

Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng lấy đầu tư công làm động lực tăng trưởng đòi hỏi nguồn lực ngân sách rất lớn. Hiện tại, chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn và việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào kết quả của việc sắp xếp tinh gọn bộ máy có giảm được chi thường xuyên không.

PGS. TS. Phạm Thế Anh cũng lưu ý, các chính sách thay đổi liên tục, tạo bất ổn sẽ hướng nguồn lực vào các quyết định đầu cơ trên các thị trường tài sản hơn là đầu tư phát triển lâu dài cho nền kinh tế. Các can thiệp hành chính phải được loại bỏ và các chính sách cẩn trọng kinh tế vĩ mô cần được tăng cường.

Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Minh Sơn, các ý kiến, kiến nghị, đề xuất chính sách tại cuộc tọa đàm sẽ được Uỷ ban tổng hợp đầy đủ để nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình thẩm tra các báo cáo về kinh tế - xã hội và tái cơ cấu nền kinh tế, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội và trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10 tới đây.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80