Lãi suất dần hạ nhiệt, tạo động lực mới cho doanh nghiệp giai đoạn đầu năm tới

Chí Tín
(TBTCO) - Trong những ngày qua, nhiều ngân hàng thông báo giảm lãi suất. Đây tiếp tiếp tục là những tín hiệu tích cực hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong những ngày đầu năm 2023 và giai đoạn tiếp theo. Đại diện Hiệp hội Ngân hàng cũng dự báo, mặt bằng lãi suất sẽ hạ nhiệt vào đầu năm 2023.
aa

Động thái giảm lãi suất rõ nét dần

Tại thời điểm đầu tháng 12, chỉ lác đác một số ngân hàng thông báo giảm lãi suất như: Vietcombank, Agribank, HDBank… Nhưng đến nay, nhiều ngân hàng khác tiếp tục điền tên mình vào danh sách các ngân hàng giảm lãi suất cho vay.

Trong đó, ACB giảm 1%/năm lãi vay cho khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp đang có khoản vay và có giao dịch chính đến 31/1/2023. VIB áp dụng chương trình giảm lãi suất đến 1,5% cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ vay kinh doanh tại VIB đến hết tháng 6/2023…

Một số ngân hàng khác cũng có những chương trình riêng cho việc giảm lãi suất cho khách hàng. Chẳng hạn như Eximbank giảm lãi suất 1%/năm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vay ngắn hạn bổ sung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, Techcombank giảm lãi suất 0,25% - 1,92%/năm cho khách hàng cá nhân sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ; có khoản vay lớn giảm 0,25 - 1,5%. Ngân hàng này cũng giảm 0,64 - 1,84% lãi suất cho hộ kinh doanh và giảm 0,82% lãi suất cho khách hàng doanh nghiệp lớn.

Trong những ngày qua, nhiều ngân hàng thông báo giảm lãi suất.
Trong những ngày qua, nhiều ngân hàng thông báo giảm lãi suất.

Để có cơ sở giảm lãi suất cho vay, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cũng đã yêu cầu các ngân hàng hội viên thực hiện nghiêm túc kêu gọi đồng thuận lãi suất huy động tại mọi kỳ hạn không quá 9,5%/năm (đã bao gồm các khoản khuyến mại). Ở góc độ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Phó Thống đốc Đào Minh Tú cũng cho biết, NHNN cũng sẽ đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng thông qua thị trường mở, thậm chí sẵn sàng giải quyết với từng trường hợp cụ thể để hỗ trợ tối đa về nguồn vốn cho các ngân hàng có nhu cầu.

Ngoài ra, nhiều ngân hàng lớn cũng đã bày tỏ quan điểm sẵn sàng hậu thuẫn các ngân hàng nhỏ hơn thông qua kênh thị trường liên ngân hàng. Bà Nguyễn Thị Phượng - Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, Agribank đang thực hiện đợt phát hành 10.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng. Đây là một trong những yếu tố giúp ngân hàng gia tăng mạnh nguồn lực vốn, qua đó đảm bảo ổn định nguồn vốn cho Agribank nói riêng và khả năng hỗ trợ các ngân hàng khác qua thị trường liên ngân hàng nếu có nhu cầu.

Thuận lợi cho doanh nghiệp

Giới kinh doanh dự đoán, trong những tháng cuối năm, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tăng cao, trong khi nguồn tiền của doanh nghiệp rất hạn hẹp vì khó có thể huy động được vốn từ phát hành trái phiếu, thậm chí còn phải mua trái phiếu trước hạn. Do đó, các doanh nghiệp sẽ phải phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng và việc các ngân hàng giảm lãi suất cũng đã giảm tải đáng kể áp lực cho nhu cầu vốn cuối năm và đầu năm sau của doanh nghiệp.

Diễn biến này cũng phù hợp với yêu cầu được Quốc hội và Chính phủ đặt ra trong việc hỗ trợ vốn cho nền kinh tế. Trong nội dung công điện của Thủ tướng Chính phủ đưa ra trong tháng 12/2022, Thủ tướng cũng đặt vấn đề yêu cầu các ngân hàng phải rà soát, tiết giảm chi phí hoạt động, thủ tục hành chính, các khoản chi không cần thiết để có dư địa chủ động giảm lãi suất cho vay, chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ người dân, doanh nghiệp cùng vượt qua khó khăn. Đây được coi như một trong những giải pháp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, góp phần kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội và góp phần xây dựng hệ thống ngân hàng hoạt động công khai, minh bạch, an toàn, lành mạnh, bền vững.

Ngân hàng Nhà nước sẽ "mạnh tay" với những ngân hàng tăng lãi suất

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, thủ tục hành chính, các khoản chi không cần thiết để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay. NHNN sẽ theo dõi các trường hợp TCTD tiếp tục tăng lãi suất và có biện pháp xử lý đối với các TCTD này. Tuy nhiên, NHNN cũng lưu ý các TCTD kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng đối với hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như đầu tư, kinh doanh chứng khoán, lĩnh vực bất động sản, đặc biệt là cấp tín dụng với mục đích đầu tư, kinh doanh bất động sản, trong đó kiểm soát mức độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng/nhóm khách hàng lớn, các dự án có quy mô lớn, phân khúc cao cấp...

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu các ngân hàng đặt trọng tâm tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu, xây dựng khu công nghiệp, nhà ở xã hội, nhà ở công nhân), nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, an ninh tài chính tiền tệ quốc gia.

Theo VNBA, thực trạng kinh tế thời gian qua cho thấy thu nhập của người dân giảm sút sau một số giai đoạn khó khăn, không còn tiền dư để gửi ngân hàng; còn doanh nghiệp giảm đơn hàng, khó khăn, trong khi vốn đầu tư công giải ngân chậm. Diễn biến thị trường từng có thời điểm xảy ra tình trạng các ngân hàng tăng lãi suất cạnh tranh nhau để giữ chân người gửi tiền. Việc một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng mạnh lãi suất huy động gây nên tình trạng cạnh tranh huy động gay gắt, tạo tâm lý bất ổn đối với cả người gửi tiền và người đi vay. Hơn nữa, việc tăng lãi suất huy động khiến chi phí huy động vốn (đầu vào) của ngân hàng thương mại đến nay đều bị ảnh hưởng và tăng. Tuy nhiên, VNBA đưa ra yêu cầu các hội viên giữ lãi suất huy động không tăng nữa là một giải pháp khá kịp thời và với những diễn biến hiện tại, dự báo bước sang đầu năm 2023 mặt bằng lãi suất sẽ hạ nhiệt.

Chí Tín

Đọc thêm

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế khi đồng thời được vinh danh tại hai giải thưởng quốc tế quan trọng: “Ngân hàng dành cho Khách hàng doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam” và “Nền tảng số dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán tốt nhất Việt Nam” trong khuôn khổ International Finance Awards 2025.
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.106 VND/USD; tỷ giá ngân hàng dao động trong biên độ 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD, còn thị trường tự do đi ngang. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,88% xuống 98,98 điểm, mất mốc quan trọng 100 điểm sau khi thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,500
Kim TT/AVPL 17,110 17,510
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,480
Nguyên Liệu 99.99 15,890 16,090
Nguyên Liệu 99.9 15,840 16,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,860 17,260
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,810 17,210
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,740 17,190
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,000 174,500
Hà Nội - PNJ 171,000 174,500
Đà Nẵng - PNJ 171,000 174,500
Miền Tây - PNJ 171,000 174,500
Tây Nguyên - PNJ 171,000 174,500
Đông Nam Bộ - PNJ 171,000 174,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,500
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,500
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,400
NL 99.90 15,620
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,650
Trang sức 99.9 16,590 17,290
Trang sức 99.99 16,600 17,300
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 17,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 17,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,705 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,705 1,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,685 173
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,787 171,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,013 129,913
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,902 117,802
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,791 105,691
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,119 101,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,398 72,298
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 175
Cập nhật: 09/04/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18839
CAD 18448 18725 19343
CHF 32718 33103 33747
CNY 0 3800 3870
EUR 30121 30395 31423
GBP 34550 34942 35876
HKD 0 3231 3433
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15004 15594
SGD 20109 20392 20909
THB 737 800 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,391 30,415 31,672
JPY 162.51 162.8 171.58
GBP 34,854 34,948 35,934
AUD 18,350 18,416 18,998
CAD 18,724 18,784 19,358
CHF 33,123 33,226 33,987
SGD 20,314 20,377 21,056
CNY - 3,795 3,916
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.55 17.26 18.66
THB 786.48 796.19 847.21
NZD 15,102 15,242 15,599
SEK - 2,799 2,880
DKK - 4,067 4,184
NOK - 2,710 2,794
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,206.3 - 6,966.87
TWD 751.33 - 904.58
SAR - 6,915.29 7,238.87
KWD - 83,845 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26361
AUD 18184 18284 19207
CAD 18636 18736 19751
CHF 32977 33007 34590
CNY 3795.5 3820.5 3956.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30310 30340 32065
GBP 34849 34899 36663
HKD 0 3355 0
JPY 162.67 163.17 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15122 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20272 20402 21125
THB 0 767.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17500000
SBJ 15000000 15000000 17500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,361
USD20 26,155 26,205 26,361
USD1 26,155 26,205 26,361
AUD 18,296 18,396 19,502
EUR 30,469 30,469 31,877
CAD 18,614 18,714 20,019
SGD 20,355 20,505 21,450
JPY 163.27 164.77 169.31
GBP 34,739 35,089 36,220
XAU 17,198,000 0 17,552,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/04/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80