Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp

(TBTCO) - Thông tin từ Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước khu vực 15 tổ chức ngày 21/1 cho thấy, đơn vị đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn. Tổng dư nợ cho vay gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%. Cùng với đó, hơn 86% dư nợ cho vay với lãi suất 9%/năm trở xuống, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương.
aa
Tín dụng ngân hàng Khu vực 15 sắp chạm mốc 400 nghìn tỷ đồng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động

Tín dụng bám “mạch” kinh tế An Giang và Cà Mau, tạo lực đẩy tăng trưởng

Trình bày báo cáo tình hình hoạt động tại Hội nghị, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khu vực 15 Trần Văn Phước cho biết, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện phải triển khai hai đợt sắp xếp lại tổ chức bộ máy (từ ngày 1/3/2025 và ngày 1/7/2025). Việc nhanh chóng ổn định tổ chức, bảo đảm bộ máy mới vận hành thông suốt là tiền đề quan trọng để duy trì hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh: Trần Trọng Triết.

Về huy động vốn, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong khu vực đạt gần 275 nghìn tỷ đồng, tăng 18,45% so với cuối năm 2024, đây là mức tăng khá tích cực trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng trên toàn hệ thống. Đáng chú ý, cơ cấu kỳ hạn và loại tiền tiếp tục được duy trì ổn định, phù hợp với mục tiêu chống đô la hóa và củng cố niềm tin vào đồng VND.

Ở chiều tín dụng, tổng dư nợ cho vay đạt gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cuối năm 2024. Mức tăng này phản ánh sự cân đối giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát, rủi ro tín dụng. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với chủ trương điều hành của NHNN.

Ông Trần Văn Phước - Quyền Giám đốc NHNN khu vực 15 nêu rõ, một điểm nhấn trong bức tranh tín dụng năm 2025 của Khu vực 15 là sự bám sát cơ cấu kinh tế địa phương. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo; cho vay ngành lúa, gạo, thủy sản, rau quả, những ngành hàng chủ lực của An Giang và Cà Mau, được duy trì và mở rộng theo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế địa phương.

Đặc biệt, tín dụng cho ngành rau quả tăng mạnh, phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, gia tăng giá trị và gắn với xuất khẩu.

Trong khi đó, tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng hơn 10%, cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành cùng khu vực doanh nghiệp - trụ cột tạo việc làm và động lực tăng trưởng tại địa phương.

Song song với mở rộng tín dụng, các ngân hàng trên địa bàn đã chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng như: điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khoanh nợ đối với các trường hợp khó khăn. Hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng.

Tại hội nghị, lãnh đạo UBND tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau đánh giá cao vai trò của nguồn vốn ngân hàng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp hai địa phương hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm vừa qua. Nguồn vốn tín dụng đã hỗ trợ tích cực cho việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp, ổn định việc làm và an sinh xã hội tại địa phương.

Dẫn dắt dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, tăng trưởng đi vào chất lượng

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh đánh giá cao NHNN khu vực 15 đã triển khai hiệu quả các chủ trương về ổn định lãi suất, giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, hơn 86% dư nợ trên địa bàn đang được cho vay với mức lãi suất từ 9%/năm trở xuống - một con số có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về chi phí vốn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Ảnh: Trần Trọng Triết.

Hoạt động thanh toán trên địa bàn diễn ra an toàn, thông suốt; công tác kế toán, thanh toán được các ngân hàng thực hiện nghiêm túc theo quy định. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng, đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi số và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong thời gian tới.

Bước sang năm 2026, nhiệm vụ đặt ra đối với NHNN khu vực 15 được Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh xác định là “hết sức nặng nề”, khi phải đồng thời thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng, thay vì chỉ chạy theo quy mô.

Theo định hướng chỉ đạo, NHNN khu vực 15 cần tiếp tục dẫn dắt dòng vốn vào sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng, nhất là trong các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều biến động, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được nhấn mạnh cho năm 2026 là tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng. Việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt gắn với bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế số tại địa phương.

Cùng với đó, NHNN khu vực 15 được yêu cầu tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, kịp thời phổ biến và hướng dẫn các quy định, thủ tục mới. Đây là yếu tố then chốt để cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Nhìn tổng thể, kết quả năm 2025 cho thấy, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn, ngay cả trong bối cảnh tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi. Những định hướng cho năm 2026 tiếp tục khẳng định yêu cầu chuyển từ “mở rộng tín dụng” sang “tín dụng chất lượng”, từ “hỗ trợ ngắn hạn” sang “đồng hành bền vững”.

Với nền tảng đã được củng cố trong năm 2025, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN khu vực 15, chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng, kỳ vọng rằng hệ thống ngân hàng tại An Giang - Cà Mau sẽ tiếp tục phát huy vai trò “huyết mạch” của nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong năm 2026 và các năm tiếp theo./.

ThS.Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17872 18445
CAD 17966 18241 18856
CHF 31835 32216 32858
CNY 0 3831 3923
EUR 29369 29589 30667
GBP 34045 34435 35367
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14618 15208
SGD 19756 20037 20603
THB 704 767 820
USD (1,2) 26043 0 0
USD (5,10,20) 26084 0 0
USD (50,100) 26113 26127 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,466
USD20 26,146 26,196 26,466
USD1 26,146 26,196 26,466
AUD 17,824 17,924 19,036
EUR 29,703 29,703 31,112
CAD 18,106 18,206 19,510
SGD 19,999 20,149 20,703
JPY 158.75 160.25 164.81
GBP 34,232 34,582 35,444
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80