Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp

(TBTCO) - Thông tin từ Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước khu vực 15 tổ chức ngày 21/1 cho thấy, đơn vị đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn. Tổng dư nợ cho vay gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%. Cùng với đó, hơn 86% dư nợ cho vay với lãi suất 9%/năm trở xuống, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương.
aa
Tín dụng ngân hàng Khu vực 15 sắp chạm mốc 400 nghìn tỷ đồng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động

Tín dụng bám “mạch” kinh tế An Giang và Cà Mau, tạo lực đẩy tăng trưởng

Trình bày báo cáo tình hình hoạt động tại Hội nghị, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khu vực 15 Trần Văn Phước cho biết, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện phải triển khai hai đợt sắp xếp lại tổ chức bộ máy (từ ngày 1/3/2025 và ngày 1/7/2025). Việc nhanh chóng ổn định tổ chức, bảo đảm bộ máy mới vận hành thông suốt là tiền đề quan trọng để duy trì hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh: Trần Trọng Triết.

Về huy động vốn, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong khu vực đạt gần 275 nghìn tỷ đồng, tăng 18,45% so với cuối năm 2024, đây là mức tăng khá tích cực trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng trên toàn hệ thống. Đáng chú ý, cơ cấu kỳ hạn và loại tiền tiếp tục được duy trì ổn định, phù hợp với mục tiêu chống đô la hóa và củng cố niềm tin vào đồng VND.

Ở chiều tín dụng, tổng dư nợ cho vay đạt gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cuối năm 2024. Mức tăng này phản ánh sự cân đối giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát, rủi ro tín dụng. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với chủ trương điều hành của NHNN.

Ông Trần Văn Phước - Quyền Giám đốc NHNN khu vực 15 nêu rõ, một điểm nhấn trong bức tranh tín dụng năm 2025 của Khu vực 15 là sự bám sát cơ cấu kinh tế địa phương. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo; cho vay ngành lúa, gạo, thủy sản, rau quả, những ngành hàng chủ lực của An Giang và Cà Mau, được duy trì và mở rộng theo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế địa phương.

Đặc biệt, tín dụng cho ngành rau quả tăng mạnh, phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, gia tăng giá trị và gắn với xuất khẩu.

Trong khi đó, tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng hơn 10%, cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành cùng khu vực doanh nghiệp - trụ cột tạo việc làm và động lực tăng trưởng tại địa phương.

Song song với mở rộng tín dụng, các ngân hàng trên địa bàn đã chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng như: điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khoanh nợ đối với các trường hợp khó khăn. Hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng.

Tại hội nghị, lãnh đạo UBND tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau đánh giá cao vai trò của nguồn vốn ngân hàng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp hai địa phương hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm vừa qua. Nguồn vốn tín dụng đã hỗ trợ tích cực cho việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp, ổn định việc làm và an sinh xã hội tại địa phương.

Dẫn dắt dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, tăng trưởng đi vào chất lượng

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh đánh giá cao NHNN khu vực 15 đã triển khai hiệu quả các chủ trương về ổn định lãi suất, giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, hơn 86% dư nợ trên địa bàn đang được cho vay với mức lãi suất từ 9%/năm trở xuống - một con số có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về chi phí vốn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Ảnh: Trần Trọng Triết.

Hoạt động thanh toán trên địa bàn diễn ra an toàn, thông suốt; công tác kế toán, thanh toán được các ngân hàng thực hiện nghiêm túc theo quy định. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng, đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi số và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong thời gian tới.

Bước sang năm 2026, nhiệm vụ đặt ra đối với NHNN khu vực 15 được Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh xác định là “hết sức nặng nề”, khi phải đồng thời thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng, thay vì chỉ chạy theo quy mô.

Theo định hướng chỉ đạo, NHNN khu vực 15 cần tiếp tục dẫn dắt dòng vốn vào sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng, nhất là trong các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều biến động, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được nhấn mạnh cho năm 2026 là tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng. Việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt gắn với bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế số tại địa phương.

Cùng với đó, NHNN khu vực 15 được yêu cầu tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, kịp thời phổ biến và hướng dẫn các quy định, thủ tục mới. Đây là yếu tố then chốt để cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Nhìn tổng thể, kết quả năm 2025 cho thấy, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn, ngay cả trong bối cảnh tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi. Những định hướng cho năm 2026 tiếp tục khẳng định yêu cầu chuyển từ “mở rộng tín dụng” sang “tín dụng chất lượng”, từ “hỗ trợ ngắn hạn” sang “đồng hành bền vững”.

Với nền tảng đã được củng cố trong năm 2025, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN khu vực 15, chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng, kỳ vọng rằng hệ thống ngân hàng tại An Giang - Cà Mau sẽ tiếp tục phát huy vai trò “huyết mạch” của nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong năm 2026 và các năm tiếp theo./.

ThS.Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80