Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp

(TBTCO) - Thông tin từ Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước khu vực 15 tổ chức ngày 21/1 cho thấy, đơn vị đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn. Tổng dư nợ cho vay gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%. Cùng với đó, hơn 86% dư nợ cho vay với lãi suất 9%/năm trở xuống, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương.
aa
Tín dụng ngân hàng Khu vực 15 sắp chạm mốc 400 nghìn tỷ đồng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động

Tín dụng bám “mạch” kinh tế An Giang và Cà Mau, tạo lực đẩy tăng trưởng

Trình bày báo cáo tình hình hoạt động tại Hội nghị, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khu vực 15 Trần Văn Phước cho biết, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện phải triển khai hai đợt sắp xếp lại tổ chức bộ máy (từ ngày 1/3/2025 và ngày 1/7/2025). Việc nhanh chóng ổn định tổ chức, bảo đảm bộ máy mới vận hành thông suốt là tiền đề quan trọng để duy trì hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh: Trần Trọng Triết.

Về huy động vốn, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong khu vực đạt gần 275 nghìn tỷ đồng, tăng 18,45% so với cuối năm 2024, đây là mức tăng khá tích cực trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng trên toàn hệ thống. Đáng chú ý, cơ cấu kỳ hạn và loại tiền tiếp tục được duy trì ổn định, phù hợp với mục tiêu chống đô la hóa và củng cố niềm tin vào đồng VND.

Ở chiều tín dụng, tổng dư nợ cho vay đạt gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cuối năm 2024. Mức tăng này phản ánh sự cân đối giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát, rủi ro tín dụng. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với chủ trương điều hành của NHNN.

Ông Trần Văn Phước - Quyền Giám đốc NHNN khu vực 15 nêu rõ, một điểm nhấn trong bức tranh tín dụng năm 2025 của Khu vực 15 là sự bám sát cơ cấu kinh tế địa phương. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo; cho vay ngành lúa, gạo, thủy sản, rau quả, những ngành hàng chủ lực của An Giang và Cà Mau, được duy trì và mở rộng theo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế địa phương.

Đặc biệt, tín dụng cho ngành rau quả tăng mạnh, phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, gia tăng giá trị và gắn với xuất khẩu.

Trong khi đó, tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng hơn 10%, cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành cùng khu vực doanh nghiệp - trụ cột tạo việc làm và động lực tăng trưởng tại địa phương.

Song song với mở rộng tín dụng, các ngân hàng trên địa bàn đã chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng như: điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khoanh nợ đối với các trường hợp khó khăn. Hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng.

Tại hội nghị, lãnh đạo UBND tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau đánh giá cao vai trò của nguồn vốn ngân hàng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp hai địa phương hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm vừa qua. Nguồn vốn tín dụng đã hỗ trợ tích cực cho việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp, ổn định việc làm và an sinh xã hội tại địa phương.

Dẫn dắt dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, tăng trưởng đi vào chất lượng

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh đánh giá cao NHNN khu vực 15 đã triển khai hiệu quả các chủ trương về ổn định lãi suất, giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, hơn 86% dư nợ trên địa bàn đang được cho vay với mức lãi suất từ 9%/năm trở xuống - một con số có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về chi phí vốn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Ảnh: Trần Trọng Triết.

Hoạt động thanh toán trên địa bàn diễn ra an toàn, thông suốt; công tác kế toán, thanh toán được các ngân hàng thực hiện nghiêm túc theo quy định. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng, đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi số và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong thời gian tới.

Bước sang năm 2026, nhiệm vụ đặt ra đối với NHNN khu vực 15 được Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh xác định là “hết sức nặng nề”, khi phải đồng thời thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng, thay vì chỉ chạy theo quy mô.

Theo định hướng chỉ đạo, NHNN khu vực 15 cần tiếp tục dẫn dắt dòng vốn vào sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng, nhất là trong các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều biến động, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được nhấn mạnh cho năm 2026 là tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng. Việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt gắn với bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế số tại địa phương.

Cùng với đó, NHNN khu vực 15 được yêu cầu tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, kịp thời phổ biến và hướng dẫn các quy định, thủ tục mới. Đây là yếu tố then chốt để cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Nhìn tổng thể, kết quả năm 2025 cho thấy, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn, ngay cả trong bối cảnh tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi. Những định hướng cho năm 2026 tiếp tục khẳng định yêu cầu chuyển từ “mở rộng tín dụng” sang “tín dụng chất lượng”, từ “hỗ trợ ngắn hạn” sang “đồng hành bền vững”.

Với nền tảng đã được củng cố trong năm 2025, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN khu vực 15, chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng, kỳ vọng rằng hệ thống ngân hàng tại An Giang - Cà Mau sẽ tiếp tục phát huy vai trò “huyết mạch” của nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong năm 2026 và các năm tiếp theo./.

ThS.Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80