Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp

(TBTCO) - Thông tin từ Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước khu vực 15 tổ chức ngày 21/1 cho thấy, đơn vị đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn. Tổng dư nợ cho vay gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%. Cùng với đó, hơn 86% dư nợ cho vay với lãi suất 9%/năm trở xuống, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương.
aa
Tín dụng ngân hàng Khu vực 15 sắp chạm mốc 400 nghìn tỷ đồng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng Tín dụng tạo lực đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại Đồng bằng sông Cửu Long Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động

Tín dụng bám “mạch” kinh tế An Giang và Cà Mau, tạo lực đẩy tăng trưởng

Trình bày báo cáo tình hình hoạt động tại Hội nghị, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khu vực 15 Trần Văn Phước cho biết, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện phải triển khai hai đợt sắp xếp lại tổ chức bộ máy (từ ngày 1/3/2025 và ngày 1/7/2025). Việc nhanh chóng ổn định tổ chức, bảo đảm bộ máy mới vận hành thông suốt là tiền đề quan trọng để duy trì hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh: Trần Trọng Triết.

Về huy động vốn, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong khu vực đạt gần 275 nghìn tỷ đồng, tăng 18,45% so với cuối năm 2024, đây là mức tăng khá tích cực trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng trên toàn hệ thống. Đáng chú ý, cơ cấu kỳ hạn và loại tiền tiếp tục được duy trì ổn định, phù hợp với mục tiêu chống đô la hóa và củng cố niềm tin vào đồng VND.

Ở chiều tín dụng, tổng dư nợ cho vay đạt gần 379 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cuối năm 2024. Mức tăng này phản ánh sự cân đối giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát, rủi ro tín dụng. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với chủ trương điều hành của NHNN.

Ông Trần Văn Phước - Quyền Giám đốc NHNN khu vực 15 nêu rõ, một điểm nhấn trong bức tranh tín dụng năm 2025 của Khu vực 15 là sự bám sát cơ cấu kinh tế địa phương. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo; cho vay ngành lúa, gạo, thủy sản, rau quả, những ngành hàng chủ lực của An Giang và Cà Mau, được duy trì và mở rộng theo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế địa phương.

Đặc biệt, tín dụng cho ngành rau quả tăng mạnh, phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, gia tăng giá trị và gắn với xuất khẩu.

Trong khi đó, tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng hơn 10%, cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành cùng khu vực doanh nghiệp - trụ cột tạo việc làm và động lực tăng trưởng tại địa phương.

Song song với mở rộng tín dụng, các ngân hàng trên địa bàn đã chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng như: điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khoanh nợ đối với các trường hợp khó khăn. Hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng.

Tại hội nghị, lãnh đạo UBND tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau đánh giá cao vai trò của nguồn vốn ngân hàng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp hai địa phương hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm vừa qua. Nguồn vốn tín dụng đã hỗ trợ tích cực cho việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp, ổn định việc làm và an sinh xã hội tại địa phương.

Dẫn dắt dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, tăng trưởng đi vào chất lượng

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh đánh giá cao NHNN khu vực 15 đã triển khai hiệu quả các chủ trương về ổn định lãi suất, giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, hơn 86% dư nợ trên địa bàn đang được cho vay với mức lãi suất từ 9%/năm trở xuống - một con số có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về chi phí vốn.

Ngân hàng Nhà nước khu vực 15: “Nhạc trưởng” điều tiết cho vay 379 nghìn tỷ đồng lãi suất thấp
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Ảnh: Trần Trọng Triết.

Hoạt động thanh toán trên địa bàn diễn ra an toàn, thông suốt; công tác kế toán, thanh toán được các ngân hàng thực hiện nghiêm túc theo quy định. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng, đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi số và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong thời gian tới.

Bước sang năm 2026, nhiệm vụ đặt ra đối với NHNN khu vực 15 được Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh xác định là “hết sức nặng nề”, khi phải đồng thời thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng, thay vì chỉ chạy theo quy mô.

Theo định hướng chỉ đạo, NHNN khu vực 15 cần tiếp tục dẫn dắt dòng vốn vào sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới như: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng, nhất là trong các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều biến động, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được nhấn mạnh cho năm 2026 là tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng. Việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt gắn với bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế số tại địa phương.

Cùng với đó, NHNN khu vực 15 được yêu cầu tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, kịp thời phổ biến và hướng dẫn các quy định, thủ tục mới. Đây là yếu tố then chốt để cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Nhìn tổng thể, kết quả năm 2025 cho thấy, NHNN khu vực 15 đã hoàn thành tốt vai trò “nhạc trưởng” trong điều hành hoạt động ngân hàng trên địa bàn, ngay cả trong bối cảnh tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi. Những định hướng cho năm 2026 tiếp tục khẳng định yêu cầu chuyển từ “mở rộng tín dụng” sang “tín dụng chất lượng”, từ “hỗ trợ ngắn hạn” sang “đồng hành bền vững”.

Với nền tảng đã được củng cố trong năm 2025, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN khu vực 15, chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng, kỳ vọng rằng hệ thống ngân hàng tại An Giang - Cà Mau sẽ tiếp tục phát huy vai trò “huyết mạch” của nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong năm 2026 và các năm tiếp theo./.

ThS.Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 04/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 04/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30