Techcombank tăng tốc nhờ sức mạnh hệ sinh thái, lợi nhuận vượt đỉnh 32.500 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý IV/2025 đạt 9.153 tỷ đồng, mức cao kỷ lục, tăng 94,9% cùng kỳ nhờ nền so sánh thấp. Lũy kế cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế đạt 32,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% và vượt kế hoạch đề ra. Cơ cấu thu nhập dịch chuyển tích cực khi nguồn thu ngoài lãi gia tăng, cùng chiến lược hệ sinh thái được đẩy mạnh để mở rộng dư địa tăng trưởng.
aa
Techcombank công bố lợi nhuận quý II đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử 7.900 tỷ đồng TCX chào sàn trong sắc xanh, khối ngoại mua ròng hơn trăm tỷ đồng TCLife gia nhập thị trường, ngân hàng đua làm chủ trong lĩnh vực bảo hiểm

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank - mã Ck: TCB) vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2025 và cả năm 2025.

Báo cáo tài chính hợp nhất do Techcombank công bố cho thấy, lợi nhuận trước thuế quý IV/2025 đạt 9.153 tỷ đồng, mức cao kỷ lục trong lịch sử hoạt động của ngân hàng, tăng 94,9% so với cùng kỳ, trong đó có yếu tố hỗ trợ từ nền so sánh thấp của quý IV/2024.

Động lực lớn nhất đến từ thu nhập lãi thuần đạt 10.788 tỷ đồng, tăng 25,4%. Song song đó, thu nhập thuần từ dịch vụ tăng mạnh 75,8%, đạt 2.571 tỷ đồng. Các nguồn thu ngoài lãi cũng đóng góp tích cực, nhờ đó, tổng thu nhập hoạt động quý IV/2025 tăng 54,8% cùng kỳ.

Ở chiều chi phí, Techcombank chủ động tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng gấp 7 lần trong quý IV/2025, lên trên 800 tỷ đồng từ nền thấp cùng kỳ, qua đó, củng cố bộ đệm an toàn, song không làm gián đoạn đà tăng lợi nhuận, giúp lợi nhuận trước thuế quý IV/2025 vẫn đạt kỷ lục.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Năm 2025 đánh dấu cột mốc lịch sử của Techcombank khi lợi nhuận trước thuế đạt 32,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2024 và vượt mục tiêu đề ra (31,5 - 31,7 nghìn tỷ đồng), tiếp tục nằm trong nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần có lợi nhuận cao nhất ngành.

Lũy kế năm 2025, thu nhập lãi thuần của Techcombank đạt 38.155 tỷ đồng, tăng 7,5%, tiếp tục giữ vai trò trụ cột, song tỷ trọng giảm còn 71,5% so với 75,6% cùng kỳ, phản ánh sự gia tăng đóng góp của các nguồn thu ngoài lãi. Biên lãi thuần (NIM) duy trì ổn định ở mức 3,9%.

Theo đại diện Techcombank, hoạt động ngân hàng đầu tư (IB) duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, ghi nhận đóng góp tích cực từ tất cả các mảng kinh doanh chính bao gồm: môi giới và lưu ký chứng khoán, tư vấn và phân phối trái phiếu và các dịch vụ ngân hàng đầu tư khác, giúp thu phí dịch vụ IB đạt 4,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,7%. Tính riêng quý IV/2025, phí IB đạt 797 tỷ đồng, giảm 12,9% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, sự chững lại này chỉ mang tính ngắn hạn, do xu hướng thị trường vẫn duy trì tích cực.

Bên cạnh đó, sự phục hồi ngoạn mục của bảo hiểm sau khi hoàn tất chuyển đổi mô hình giúp phí dịch vụ bảo hiểm năm 2025 tăng 91,8% lên 1,2 nghìn tỷ đồng, riêng quý IV/2025 gấp 31 lần so với cùng kỳ năm 2024 với 361,4 tỷ đồng.

Đi đôi với tăng trưởng về doanh thu, Techcombank duy trì hiệu quả vận hành tối ưu và quản trị rủi ro thận trọng. Chi phí hoạt động được kiểm soát tốt, đạt 16,4 nghìn tỷ đồng năm 2025, chỉ tăng 6,9%, chủ yếu tập trung vào đầu tư mạnh cho hạ tầng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ tăng trưởng dài hạn, tương ứng tỷ lệ chi phí/thu nhập (CIR) cả năm được duy trì ở mức 30,8%.

Techcombank tăng tốc nhờ sức mạnh hệ sinh thái, lợi nhuận vượt đỉnh 32.500 tỷ đồng
Techcombank tăng tốc nhờ sức mạnh hệ sinh thái, lợi nhuận vượt đỉnh 32.500 tỷ đồng. Ảnh tư liệu.

Ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank chia sẻ: “Techcombank khép lại năm 2025 với đà tăng trưởng mạnh mẽ, đạt mức lợi nhuận kỷ lục trong quý IV/2025. Kết quả này được thúc đẩy bởi sự tăng tốc của thu nhập lãi thuần, sự phục hồi mạnh mẽ của thu nhập từ phí, cùng với việc quản lý chi phí hiệu quả. Thành tích vượt trội trong năm đạt được trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều bất ổn, một lần nữa khẳng định sự vững vàng và khả năng mở rộng của mô hình kinh doanh cũng như sức mạnh nền tảng của nền kinh tế Việt Nam".

Năm 2025, Techcombank đã đẩy mạnh chiến lược hệ sinh thái, mở rộng ra ngoài lĩnh vực ngân hàng để khai mở những cơ hội tăng trưởng mới. Việc IPO và niêm yết thành công TCX cùng với việc ra mắt Techcom Life và vận hành trọn năm của TCGIns đã củng cố năng lực phục vụ khách hàng toàn diện trên các lĩnh vực ngân hàng, quản lý tài sản, thị trường vốn và bảo hiểm.

"Techcombank hiện là một tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Nam. Từ vị thế vững chắc này, chúng tôi đang khởi động chiến lược 5 năm mới, tiếp tục dẫn dắt và định hình ngành, tăng cường kết nối hệ sinh thái của mình và tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng và cổ đông” - Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Bên cạnh kết quả kinh doanh tích cực, bảng cân đối kế toán của Techcombank tiếp tục duy trì trạng thái lành mạnh, phản ánh chất lượng tài sản được củng cố. Năm 2025, tổng tài sản của ngân hàng chính thức vượt mốc 1 triệu tỷ đồng; đến ngày 31/12/2025, quy mô đạt 1,19 triệu tỷ đồng, tăng 22% so với đầu năm. Tính riêng ngân hàng, tín dụng tăng gần 18,4% lên 824 nghìn tỷ đồng.

Đáng chú ý, tỷ trọng cho vay bất động sản đã giảm từ 33,2% (năm 2024) xuống còn 30,7% vào cuối năm 2025, phản ánh nỗ lực đa dạng hóa danh mục tín dụng của ngân hàng, song song với mở rộng dư nợ sang các lĩnh vực kinh tế tiềm năng khác.

Ngoài ra, Techcombank tiếp tục khẳng định vị thế tài chính với các chỉ số thanh khoản được duy trì ở mức an toàn cao./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80