VCBS dự báo nhiều ngân hàng lãi lớn, mức tăng trưởng tới 35%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - VCBS dự báo quý III/2025 tiếp tục là giai đoạn tăng trưởng mạnh của ngành ngân hàng, trong đó có 2 ngân hàng có thể đạt mức tăng lợi nhuận trước thuế tới 35%. Bên cạnh đó, 8 ngân hàng khác cũng được kỳ vọng duy trì đà tăng trưởng 2 chữ số, nhờ tín dụng bứt tốc, NIM cải thiện và áp lực dự phòng giảm.
aa

Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025
Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Trong báo cáo tổng hợp dự báo kết quả kinh doanh quý III/2025 và cả năm, Công ty Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) dự báo tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn ngành cuối quý III tiếp tục tăng tốc, đạt khoảng 14% so với cuối năm 2024.

VCBS dự báo nhiều ngân hàng lãi lớn, mức tăng trưởng tới 35%
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

NIM tạo đáy, tín dụng bất động sản thành động lực mới

Trong bức tranh chung, nhóm phân tích VCBS đánh giá, biên lãi ròng (NIM) bắt đầu có dấu hiệu tạo đáy và một số ngân hàng dịch chuyển danh mục cho vay sang lĩnh vực có lợi suất cao hơn như bất động sản. Về chất lượng tài sản, nợ xấu dự kiến giảm nhẹ nhờ thu hồi nợ và hoàn nhập dự phòng.

Về triển vọng tại từng ngân hàng, BIDV được dự báo duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng 16% trong năm 2025, NIM đi ngang ở mức 2,4%. Chất lượng tài sản vẫn thuộc nhóm tốt nhất ngành, với áp lực dự phòng thấp.

Nhóm phân tích VCBS dự báo, BIDV (mã Ck: BID) sắp tăng vốn điều lệ thêm 21.656 tỷ đồng lên gần 91.870 tỷ đồng thông qua việc tăng vốn từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ 7,1%; trả cổ tức tỷ lệ 19,9% và phát hành riêng lẻ tỷ lệ 3,84%. Lợi nhuận trước thuế cả năm 2025 ước đạt 35.642 tỷ đồng, tăng 14% cùng kỳ.

Trong khi đó, ACB (mã Ck: ACB) dự kiến tăng trưởng tín dụng 19,3% nhờ nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng cá nhân. NIM có dư địa hồi phục nhẹ, hiệu quả sinh lời duy trì cao nhờ kiểm soát tốt chi phí và chất lượng tài sản. Lợi nhuận trước thuế ước đạt khoảng 22.940 tỷ đồng, tăng 9% cùng kỳ.

Đối với Techcombank (mã Ck: TCB), động lực tăng trưởng đến từ bất động sản, xây dựng và nhu cầu vay mua nhà ở; NIM cải thiện nhờ CASA (tiết kiệm không kỳ hạn) duy trì ở mức cao và tỷ trọng cho vay bán lẻ lớn. Việc IPO (phát hành lần đầu ra công chúng) TCBS cũng giúp ngân hàng tái định giá lại khoản đầu tư và gia tăng vị thế, đưa lợi nhuận trước thuế năm 2025 của ngân hàng lên 31.262 tỷ đồng, tăng 14%.

Theo dự phóng của VCBS, trong quý III/2025, VIB (mã Ck: VIB) ước đạt tổng thu nhập hoạt động 4.837 tỷ đồng (giảm 2%), lợi nhuận trước thuế 2.178 tỷ đồng (tăng 9%). Cả năm 2025, ngân hàng dự kiến ghi nhận tổng thu nhập hoạt động 20.994 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 10.726 tỷ đồng, tăng lần lượt 2% và 19%.

Tín dụng của VIB kỳ vọng tăng trưởng tích cực nhờ sự phục hồi của các mảng kinh doanh, trong đó mảng cho vay mua nhà ở sẽ là động lực dẫn dắt tăng trưởng chính. NIM được dự báo cải thiện nhờ cho vay bán lẻ có lợi suất cao, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn duy trì thấp. Triển vọng tìm kiếm đối tác chiến lược nước ngoài sau khi Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CBA) thoái vốn cũng là động lực hỗ trợ hoạt động kinh doanh.

Đối với MSB (mã Ck: MSB), VCBS đánh giá nhu cầu tín dụng ở mức tốt, dự kiến tăng trưởng 21,2% trong năm 2025, NIM cải thiện từ nửa cuối năm. Tỷ lệ nợ xấu kỳ vọng giảm về mức 2% nhờ tín dụng bứt tốc và tăng thu hồi nợ đã xóa.

MSB cũng đẩy mạnh hoàn thiện hệ sinh thái thông qua các kế hoạch thoái vốn, góp vốn các công ty con: chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn góp tại TNEX Finance và góp vốn mua công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Dự phóng cả năm 2025, MSB đạt tổng thu nhập hoạt động 16.337 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 8.198 tỷ đồng, tăng lần lượt 15% và 19%. Riêng quý III, ngân hàng có thể ghi nhận tổng thu nhập hoạt động 3.370 tỷ đồng (tăng 15%) và lợi nhuận trước thuế 1.640 tỷ đồng (tăng 35%).

Với Sacombank (mã Ck: STB), tín dụng dự kiến tăng trưởng 14% trong năm 2025, trong khi thu nhập ngoài lãi cải thiện nhờ phí dịch vụ và thu hồi nợ xấu. NIM được duy trì ở mức 3,7%, áp lực trích lập dự phòng giảm. "Tiến độ xử lý tài sản tồn đọng của Sacombank sẽ được đẩy nhanh và hoàn thành trong 2025 - 2026" - VCBS kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 27/07/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80