Chi đậm nghìn tỷ bồi thường xe cơ giới, đến lúc doanh nghiệp bảo hiểm cần chuyển mình

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng bồi thường lớn, với nhiều doanh nghiệp chi đậm nghìn tỷ cho nghiệp vụ này, thể hiện trách nhiệm khi chi trả kịp thời, giúp khách hàng khắc phục thiệt hại. Tuy nhiên, trước những hành vi trục lợi và nhiều rủi ro buộc ngành phải chuyển mình, định phí theo hành vi và ứng dụng công nghệ là hướng đi tất yếu.
aa
Đơn giản hóa thủ tục bồi thường, tăng quyền lợi cho chủ xe cơ giới Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng

Thống kê của phóng viên từ các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết công bố dữ liệu về nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới cho thấy, nhiều doanh nghiệp chi trả bồi thường ở mức cao quý I/2025.

Những cái tên chi bồi thường đậm và bài toán kiểm soát rủi ro

Do một số doanh nghiệp không công bố số liệu chi bồi thường bảo hiểm gốc cho nghiệp vụ xe cơ giới, hiện Bảo hiểm MIC đang tạm dẫn đầu với mức chi trả gần 228 tỷ đồng. Theo sau là Bảo hiểm PJICO với 213 tỷ đồng; Bảo hiểm DBV (trước đây là Bảo hiểm Hàng không VNI) cũng ghi nhận mức chi trả cao gần 207 tỷ đồng trong quý I/2025.

Top 5 doanh nghiệp chi bồi thường xe cơ giới nghìn tỷ

Còn tính theo năm, top 5 doanh nghiệp chi trả bồi thường xe cơ giới cao nhất ngành năm 2023 - 2024 với mức chi trả trên dưới 1.000 tỷ đồng như: Bảo hiểm DBV; Bảo hiểm BSH; PTI; Bảo hiểm MIC và PJICO.

Đơn cử, DBV từng chi trả hơn 550 triệu đồng quyền lợi bảo hiểm vật chất ô tô cho khách hàng Nguyễn Văn Dung, sau vụ tai nạn tại Sơn La, VNI nhanh chóng giám định, hỗ trợ bồi thường cho khách hàng.

Hay ngay sau vụ tai nạn nghiêm trọng khiến một hành khách tử vong tại Gia Lai, BSH cũng nhanh chóng tạm ứng 45 triệu đồng cho chủ xe khách 16 chỗ, thể hiện trách nhiệm, hỗ trợ khách hàng khắc phục hậu quả và củng cố niềm tin vào dịch vụ bảo hiểm...

Chi đậm nghìn tỷ đồng bồi thường xe cơ giới, ngành bảo hiểm đứng trước ngã rẽ chuyển đổi
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Về tỷ trọng chi bồi thường bảo hiểm xe cơ giới trong tổng chi bồi thường bảo hiểm gốc, dữ liệu 5 năm gần đây ghi nhận sự phân hóa giữa các doanh nghiệp, với ba nhóm xu hướng chính, cho thấy mỗi công ty đều đang nỗ lực định hình chiến lược riêng phù hợp với định hướng phát triển và năng lực quản trị rủi ro.

Nhóm thứ nhất, các doanh nghiệp có tỷ trọng chi trả bảo hiểm xe cơ giới ở mức cao, từ 60 - 80% tổng chi nhiều năm liên tiếp, tiêu biểu như: Bảo hiểm DBV (78,78% năm 2024), BSH (77,96%), MIC (65,59%) và PJICO (57,89%). Nhóm thứ hai, các doanh nghiệp có tỷ trọng chi bồi thường ở mức trung 35 - 50% như: Bảo hiểm Bảo Long, PTI, Bảo hiểm BIC. Nhóm thứ ba gồm các doanh nghiệp có tỷ trọng chi bảo hiểm xe cơ giới dưới 30% như Bảo hiểm Bảo Minh hay Bảo hiểm Agribank (ABIC).

Chi đậm nghìn tỷ bồi thường xe cơ giới, đến lúc doanh nghiệp bảo hiểm cần chuyển mình
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Những con số trên cho thấy sự chủ động, nỗ lực và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp bảo hiểm khi kịp thời chi trả bồi thường cho các sự cố liên quan đến bảo hiểm xe cơ giới. Nhờ đó, không chỉ giúp khách hàng khắc phục hậu quả, mà còn củng cố niềm tin vào dịch vụ bảo hiểm, như một "bệ đỡ" tài chính vững chắc khi rủi ro xảy ra. Tuy vậy, chi phí bồi thường tăng nhanh, có thể do tai nạn gia tăng, chi phí sửa chữa cao hay tình trạng gian lận bảo hiểm, vẫn là một thách thức lớn với các doanh nghiệp trong ngành.

Chia sẻ trên một diễn đàn, một khách hàng bức xúc chia sẻ việc chưa được bồi thường dù xe vợ mình lùi nhầm chân ga gây tai nạn, sửa chữa hơn 5 triệu đồng. Dù chưa rõ khách hàng đã nộp đủ hồ sơ chưa, người này tỏ ý muốn ép doanh nghiệp bồi thường để "bõ tức".

Chia sẻ với phóng viên, một lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng nêu rõ 5 hình thức trục lợi bảo hiểm phổ biến. Một là, khai gian thời điểm tổn thất để hợp thức hóa hợp đồng, trục lợi trước thời điểm mua bảo hiểm. Hai là, nhận bồi thường từ bên thứ ba có lỗi, song họ vẫn dựng hiện trường giả và yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thêm. Ba là, giấu vi phạm như không có bằng lái hoặc sử dụng chất kích thích, nhưng khai gian để nhận bồi thường.

Bốn là, gia tăng giá trị tổn thất, cố tình thay thế các bộ phận cũ, hỏng sẵn và tạo dựng hiện trường để hợp thức hóa. Năm là, khách hàng bị tổn thất ngoài lãnh thổ Việt Nam, không mua điều khoản bổ sung, nhưng cố tình kéo xe về lãnh thổ Việt Nam, thông báo tai nạn và hiện trường khác để yêu cầu bồi thường.

Nỗ lực bảo vệ khách hàng giữa áp lực rủi ro và trục lợi

Theo các chuyên gia, để duy trì hiệu quả và phát triển bền vững, các doanh nghiệp bảo hiểm đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giám định tổn thất, phát hiện gian lận và tối ưu hóa quy trình quản trị chi phí. Đây sẽ là yếu tố then chốt giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo niềm tin cho người tham gia bảo hiểm xe cơ giới trong thời gian tới.

Chia sẻ quan điểm về việc kiểm soát trục lợi, bà Đinh Thị Ngọc Niềm - CEO của Công ty cổ phần Tư vấn Insurtech Global Care ủng hộ quan điểm áp dụng công nghệ vào khâu khai thác và khâu bồi thường để phát hiện hành vi trục lợi của khách hàng hoặc trục lợi “trên lợi ích khác”. Điều này sẽ giúp cho hồ sơ bồi thường không có “góc khuất” khác và cũng giúp làm giàu dữ liệu để tiến đến phương pháp định phí theo hành vi lái xe của khách hàng.

Chi đậm nghìn tỷ bồi thường xe cơ giới, đến lúc doanh nghiệp bảo hiểm cần chuyển mình

Không thể mãi “đắp đê trước cơn lũ”

"Để cân bằng kỹ thuật nghiệp vụ, trên thực tế nhiều nhà bảo hiểm đưa ra các quyết sách như: không nhận xe có giá trị dưới 300 triệu, đánh phí cao cho các dòng xe cỏ, xe chạy dịch vụ..., tuy nhiên, đây là phương pháp định phí không trọn vẹn, là hành động “đắp đê” trước cơn lũ. Các công ty bảo hiểm cần thiết lập lại phương pháp định phí bảo hiểm, đồng thời nghiêm túc thực hiện cơ sở dữ liệu chung, tránh trường hợp tổn thất năm trước tại công ty bảo hiểm A cao, năm sau tham gia tại công ty B vẫn hưởng được chế độ ưu đãi phí" - CEO Insurtech Global Care nhấn mạnh.

Về thời gian chi trả bồi thường, thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp nỗ lực thực hiện chi trả bồi thường trong thời hạn 15 ngày như quy định. Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp xử lý chậm trễ, vượt quá thời gian cam kết dù Nghị định 67/2023/NĐ-CP ngày 06/9/2023 có những đổi mới rõ rệt.

Về vấn đề này, theo bà Niềm, bên cạnh các yếu tố chủ quan từ quy trình xử lý bồi thường chưa tinh gọn của nhà bảo hiểm, các yếu tố khách quan như: nhà bảo hiểm phải phụ thuộc vào khâu thẩm định báo giá của gara sửa chữa ô tô, gara cũng cần thêm thời gian để tìm kiếm nhập khẩu vật tư thay thế… khiến thời gian xử lý chi trả bồi thường vượt quá 15 ngày theo như quy định. Từ đó, ảnh hưởng đến khách hàng rất lớn, thậm chí làm mất giảm thu nhập của khách hàng do xe nằm gara dài ngày.

Cùng chung quan điểm, chuyên gia Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị Rủi ro Tài chính (IFRM) cho rằng, việc ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ nâng cao hiệu quả xử lý, mà còn mở ra một "vùng trời mới" cho ngành bảo hiểm.

Chẳng hạn, khi xảy ra va chạm giao thông, nguyên tắc thông thường yêu cầu phải giữ nguyên hiện trường để giám định, song điều này lại gây cản trở giao thông và làm phát sinh nhiều bất tiện. Trong khi đó, nếu khách hàng được trang bị công nghệ, hoàn toàn có thể chủ động chụp ảnh, quay video hiện trường và gửi dữ liệu ngay lập tức về cho doanh nghiệp bảo hiểm.

"Không chỉ giúp tăng tốc độ và minh bạch hóa quá trình bồi thường, công nghệ AI còn giúp doanh nghiệp kiểm soát rủi ro, hạn chế tình trạng trục lợi bảo hiểm. Đồng thời tạo điều kiện mở rộng thị trường khi khách hàng đóng vai trò như một "cánh tay nối dài" của nhà bảo hiểm trong công tác giám định" - ông Đán nhìn nhận./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80