Gỡ điểm nghẽn để tín dụng nhà ở xã hội phát huy hiệu quả

(TBTCO) - Tốc độ giải ngân các chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội vẫn chưa được đẩy mạnh do nhiều điểm nghẽn. Không chỉ dừng ở hạ lãi suất, bài toán then chốt cần phải giải là gắn kết vốn - dự án - người vay để chính sách phát huy hiệu quả.
aa

Mở rộng tiếp cận vốn ưu đãi tới nhiều dự án

Hiện có 3 chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội. Thứ nhất là gói 120.000 tỷ đồng, đến nay đã có 9 ngân hàng đăng ký tham gia với tổng hạn mức 145.000 tỷ đồng. Thứ hai là chương trình cho vay mua nhà ở xã hội dành cho người trẻ dưới 35 tuổi. Thứ ba là chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Với gói tín dụng 120.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước đã 6 lần yêu cầu các tổ chức tín dụng hạ lãi suất cho vay, từ mức 8,7%/năm ban đầu xuống còn 6,4%/năm cho chủ đầu tư và 5,9%/năm cho người vay mua nhà, thậm chí thấp hơn cả mức cho vay hộ nghèo (khoảng 6,6%/năm).

Gỡ điểm nghẽn để tín dụng nhà ở xã hội phát huy hiệu quả
Khu nhà ở xã hội tại tỉnh An Giang. Ảnh: Trần Trọng Triết

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước khu vực 15, đến cuối tháng 7/2025, trên địa bàn do Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 quản lý, có 8 dự án nhà ở xã hội đủ điều kiện theo chương trình do UBND tỉnh báo cáo Bộ Xây dựng.

Theo đó, tại An Giang có 6 dự án, tổng vốn giải ngân đạt 395 tỷ đồng, gồm 181 tỷ đồng cho 1 chủ đầu tư và 214 tỷ đồng cho 234 người mua nhà. Trong đó, Agribank giải ngân 181 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang và 209 tỷ đồng cho 221 khách hàng mua nhà tại 2 dự án nhà ở xã hội. Cụ thể, tại dự án Khu đô thị Tây Bắc, phường Rạch Giá, chủ đầu tư được vay 160 tỷ đồng và người mua nhà vay 209 tỷ đồng; tại dự án Nhà ở xã hội Đường số 2, phường Rạch Giá, chủ đầu tư được vay 21 tỷ đồng.

Ngoài ra, TPBank giải ngân 5 tỷ đồng cho 13 khách hàng mua nhà tại dự án Golden City An Giang (tòa T3, T4) do Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại Đông Á làm chủ đầu tư.

Tại tỉnh Cà Mau có 2 dự án gồm: dự án Nhà ở xã hội phường An Xuyên (Công ty cổ phần Đầu tư - Phát triển nhà Cà Mau làm chủ đầu tư); dự án Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phường An Xuyên (Liên doanh Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển hạ tầng Á Đông - Công ty cổ phần Đầu tư CIC làm chủ đầu tư).

VietinBank giải ngân 46 tỷ đồng cho 2 chủ đầu tư. Trong đó, dự án Nhà ở xã hội phường An Xuyên được giải ngân 20 tỷ đồng; dự án Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phường An Xuyên được giải ngân 26 tỷ đồng.

Hạ lãi suất là chưa đủ khi chưa giải quyết "gốc rễ" vấn đề

Nếu chính sách tín dụng chỉ dừng lại ở việc hạ lãi suất mà thiếu cơ chế hỗ trợ triển khai, thì rất dễ rơi vào tình trạng khó tiếp cận vốn. Việc triển khai nhiều gói vay là tín hiệu tích cực, nhưng nếu không giải quyết gốc rễ từ phía cung, thì các chính sách ưu đãi tín dụng khó phát huy hiệu quả.

Bên cạnh đó, có 2 dự án chưa phát sinh dư nợ tín dụng gồm: dự án Khu nhà ở xã hội thuộc khu du lịch sinh thái và dân cư Rạch Tràm tại Phú Quốc, chủ đầu tư (Công ty cổ phần Đầu tư địa ốc Thành phố - Đảo Phú Quốc) chưa có nhu cầu vay vốn cấp thiết; dự án Khu dân cư chợ nông hải sản Trung tâm thương mại Rạch Giá (Công ty cổ phần Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang làm chủ đầu tư), các ngân hàng thương mại đang tiếp cận để cho vay.

Thực tế, dù nguồn vốn đã được bố trí, tiến độ giải ngân cho các dự án nhà ở xã hội vẫn chậm và tình trạng này cũng diễn ra tương tự ở các chương trình tín dụng.

Gỡ điểm nghẽn nguồn cung, tiếp tục hạ lãi suất

Nhìn lại quá trình triển khai chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, có thể thấy, Chính phủ và các bộ, ngành đã thể hiện quyết tâm tháo gỡ khó khăn, nhưng vẫn còn nhiều rào cản, trong đó có thể chỉ ra 3 "điểm nghẽn" chủ yếu.

Một là, nguồn cung nhà ở xã hội còn thiếu và chưa phù hợp nhu cầu. Quỹ đất khan hiếm, thủ tục pháp lý phức tạp, lợi nhuận thấp, khiến nhiều chủ đầu tư không mặn mà triển khai dự án nhà ở xã hội. Quá trình phê duyệt dự án chậm, chưa tạo ra quy mô sản phẩm đủ lớn để hấp dẫn thị trường.

Hai là, khó khăn liên quan đến tiêu chí xác định đối tượng vay. Hiện quy định về thu nhập 15 triệu đồng/tháng đối với cá nhân, 30 triệu đồng/tháng đối với hộ gia đình vẫn còn quá chặt, chưa phù hợp với thực tế tại nhiều địa phương. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị điều chỉnh lại tiêu chí thu nhập, đồng thời xem xét lại lãi suất cho vay. Hiện mức 6,6% do Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng vẫn cao hơn so với lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại.

Ba là, lãi suất cho vay nhà ở xã hội trong gói 120.000 tỷ đồng cũng như tín dụng cho người trẻ dưới 35 tuổi vẫn còn cao và chưa ổn định, khiến đa số người có thu nhập thấp khó tiếp cận. Để chương trình tín dụng nhà ở xã hội thực sự hiệu quả, Chính phủ cần cấp vốn cho các ngân hàng thương mại với lãi suất ưu đãi rất thấp, tối đa khoảng 3%/năm, để các ngân hàng cho vay lại với mức khoảng 5%/năm.

Để tháo gỡ khó khăn, Bộ Xây dựng cần tiếp tục rà soát, xử lý vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ dự án, tăng nguồn cung cho thị trường, đồng thời sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định về Quỹ nhà ở quốc gia. Về phía UBND các tỉnh, thành phố, cần tích cực triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm hoàn thành các chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội theo kế hoạch, bảo đảm nguồn cung ổn định ra thị trường.

Gắn kết vốn - dự án - người vay, để chính sách đi vào cuộc sống

Nhiều người cho rằng, tín dụng nhà ở xã hội chỉ cần lãi suất thấp là đủ. Nhưng thực tế, một chính sách tín dụng hiệu quả phải đáp ứng đồng thời 3 yếu tố: lãi suất ổn định trong dài hạn, thủ tục vay minh bạch và cơ chế giám sát chặt chẽ để ngăn chặn trục lợi. Nếu không, sẽ xảy ra tình trạng người thu nhập trung bình cao hưởng lợi, trong khi công nhân, người nghèo thật sự lại đứng ngoài.

Tín dụng nhà ở xã hội không chỉ là một gói hỗ trợ tài chính, mà là chính sách an sinh gắn liền với ổn định xã hội. Người dân không chỉ cần vốn vay, họ cần một dự án ở vị trí thuận tiện, hạ tầng đồng bộ để yên tâm sinh sống. Do đó, cần xác định lại mối quan hệ giữa 3 yếu tố: vốn - dự án - người vay. Nếu chỉ có vốn mà không có dự án khả thi, hoặc có dự án nhưng người dân khó tiếp cận vốn, thì chính sách sẽ rơi vào vòng "luẩn quẩn".

Để chính sách đi vào cuộc sống, trước hết, cần rút ngắn quy trình xét duyệt, áp dụng công nghệ số để quản lý hồ sơ, giảm bớt giấy tờ, vừa tiết kiệm thời gian, vừa hạn chế cơ chế xin - cho. Tiếp đến, đa dạng hóa nguồn vốn ngoài ngân sách và Ngân hàng Chính sách xã hội, cần khuyến khích ngân hàng thương mại tham gia với cơ chế bù lãi suất từ Nhà nước. Phát triển quỹ tiết kiệm nhà ở theo hình thức "góp trước - vay sau" để người lao động chủ động tích lũy.

Song song, quy hoạch dự án phải gắn với nhu cầu thực tế, nhà ở xã hội cần nằm gần khu công nghiệp, dịch vụ, có trường học, bệnh viện, giao thông thuận lợi. Chỉ khi người dân thấy nơi ở thật sự tiện lợi, họ mới sẵn sàng vay vốn để mua.

Cuối cùng, cần tăng cường giám sát và minh bạch thông tin về đối tượng thụ hưởng, danh mục dự án, điều kiện vay. Điều này giúp hạn chế tình trạng mua bán chui, đầu cơ nhà ở xã hội.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước khu vực 15

Đọc thêm

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

(TBTCO) - Khoảng 2 triệu người tại Việt Nam đang có việc làm thông qua các nền tảng số, nhưng chỉ khoảng 1/5 lao động được khảo sát tham gia bảo hiểm xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 21/9/2026, VietinBank và Finviet đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU - Memorandum of Understanding) nhằm xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17922 18196 18772
CAD 17922 18197 18814
CHF 30980 31358 31999
CNY 0 3833 3929
EUR 29078 29298 30375
GBP 33815 34204 35135
HKD 0 3182 3384
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14511 15098
SGD 19824 20106 20682
THB 698 761 814
USD (1,2) 25724 0 0
USD (5,10,20) 25763 0 0
USD (50,100) 25791 25805 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,168 29,191 30,576
JPY 160.55 160.84 170.56
GBP 34,045 34,137 35,320
AUD 18,142 18,208 18,899
CAD 18,133 18,191 18,864
CHF 31,283 31,380 32,315
SGD 19,970 20,032 20,820
CNY - 3,807 3,952
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.73 18.49 20.11
THB 747.44 756.67 809.94
NZD 14,523 14,658 15,092
SEK - 2,595 2,688
DKK - 3,912 4,050
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,972.65 - 6,741.38
TWD 741.22 - 898.01
SAR - 6,810 7,173.33
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,226 29,343 30,542
GBP 34,081 34,218 35,242
HKD 3,249 3,262 3,380
CHF 31,163 31,288 32,234
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,171 18,244 18,837
SGD 20,049 20,130 20,721
THB 765 768 806
CAD 18,162 18,235 18,824
NZD 14,629 15,171
KRW 18.41 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18107 18207 19132
CAD 18105 18205 19216
CHF 31227 31257 32839
CNY 3815.9 3840.9 3976.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29259 29289 31015
GBP 34111 34161 35929
HKD 0 3315 0
JPY 161.38 161.88 172.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14621 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 727.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30