Gỡ điểm nghẽn để tín dụng nhà ở xã hội phát huy hiệu quả

(TBTCO) - Tốc độ giải ngân các chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội vẫn chưa được đẩy mạnh do nhiều điểm nghẽn. Không chỉ dừng ở hạ lãi suất, bài toán then chốt cần phải giải là gắn kết vốn - dự án - người vay để chính sách phát huy hiệu quả.
aa

Mở rộng tiếp cận vốn ưu đãi tới nhiều dự án

Hiện có 3 chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội. Thứ nhất là gói 120.000 tỷ đồng, đến nay đã có 9 ngân hàng đăng ký tham gia với tổng hạn mức 145.000 tỷ đồng. Thứ hai là chương trình cho vay mua nhà ở xã hội dành cho người trẻ dưới 35 tuổi. Thứ ba là chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Với gói tín dụng 120.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước đã 6 lần yêu cầu các tổ chức tín dụng hạ lãi suất cho vay, từ mức 8,7%/năm ban đầu xuống còn 6,4%/năm cho chủ đầu tư và 5,9%/năm cho người vay mua nhà, thậm chí thấp hơn cả mức cho vay hộ nghèo (khoảng 6,6%/năm).

Gỡ điểm nghẽn để tín dụng nhà ở xã hội phát huy hiệu quả
Khu nhà ở xã hội tại tỉnh An Giang. Ảnh: Trần Trọng Triết

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước khu vực 15, đến cuối tháng 7/2025, trên địa bàn do Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 quản lý, có 8 dự án nhà ở xã hội đủ điều kiện theo chương trình do UBND tỉnh báo cáo Bộ Xây dựng.

Theo đó, tại An Giang có 6 dự án, tổng vốn giải ngân đạt 395 tỷ đồng, gồm 181 tỷ đồng cho 1 chủ đầu tư và 214 tỷ đồng cho 234 người mua nhà. Trong đó, Agribank giải ngân 181 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang và 209 tỷ đồng cho 221 khách hàng mua nhà tại 2 dự án nhà ở xã hội. Cụ thể, tại dự án Khu đô thị Tây Bắc, phường Rạch Giá, chủ đầu tư được vay 160 tỷ đồng và người mua nhà vay 209 tỷ đồng; tại dự án Nhà ở xã hội Đường số 2, phường Rạch Giá, chủ đầu tư được vay 21 tỷ đồng.

Ngoài ra, TPBank giải ngân 5 tỷ đồng cho 13 khách hàng mua nhà tại dự án Golden City An Giang (tòa T3, T4) do Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại Đông Á làm chủ đầu tư.

Tại tỉnh Cà Mau có 2 dự án gồm: dự án Nhà ở xã hội phường An Xuyên (Công ty cổ phần Đầu tư - Phát triển nhà Cà Mau làm chủ đầu tư); dự án Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phường An Xuyên (Liên doanh Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển hạ tầng Á Đông - Công ty cổ phần Đầu tư CIC làm chủ đầu tư).

VietinBank giải ngân 46 tỷ đồng cho 2 chủ đầu tư. Trong đó, dự án Nhà ở xã hội phường An Xuyên được giải ngân 20 tỷ đồng; dự án Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phường An Xuyên được giải ngân 26 tỷ đồng.

Hạ lãi suất là chưa đủ khi chưa giải quyết "gốc rễ" vấn đề

Nếu chính sách tín dụng chỉ dừng lại ở việc hạ lãi suất mà thiếu cơ chế hỗ trợ triển khai, thì rất dễ rơi vào tình trạng khó tiếp cận vốn. Việc triển khai nhiều gói vay là tín hiệu tích cực, nhưng nếu không giải quyết gốc rễ từ phía cung, thì các chính sách ưu đãi tín dụng khó phát huy hiệu quả.

Bên cạnh đó, có 2 dự án chưa phát sinh dư nợ tín dụng gồm: dự án Khu nhà ở xã hội thuộc khu du lịch sinh thái và dân cư Rạch Tràm tại Phú Quốc, chủ đầu tư (Công ty cổ phần Đầu tư địa ốc Thành phố - Đảo Phú Quốc) chưa có nhu cầu vay vốn cấp thiết; dự án Khu dân cư chợ nông hải sản Trung tâm thương mại Rạch Giá (Công ty cổ phần Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang làm chủ đầu tư), các ngân hàng thương mại đang tiếp cận để cho vay.

Thực tế, dù nguồn vốn đã được bố trí, tiến độ giải ngân cho các dự án nhà ở xã hội vẫn chậm và tình trạng này cũng diễn ra tương tự ở các chương trình tín dụng.

Gỡ điểm nghẽn nguồn cung, tiếp tục hạ lãi suất

Nhìn lại quá trình triển khai chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, có thể thấy, Chính phủ và các bộ, ngành đã thể hiện quyết tâm tháo gỡ khó khăn, nhưng vẫn còn nhiều rào cản, trong đó có thể chỉ ra 3 "điểm nghẽn" chủ yếu.

Một là, nguồn cung nhà ở xã hội còn thiếu và chưa phù hợp nhu cầu. Quỹ đất khan hiếm, thủ tục pháp lý phức tạp, lợi nhuận thấp, khiến nhiều chủ đầu tư không mặn mà triển khai dự án nhà ở xã hội. Quá trình phê duyệt dự án chậm, chưa tạo ra quy mô sản phẩm đủ lớn để hấp dẫn thị trường.

Hai là, khó khăn liên quan đến tiêu chí xác định đối tượng vay. Hiện quy định về thu nhập 15 triệu đồng/tháng đối với cá nhân, 30 triệu đồng/tháng đối với hộ gia đình vẫn còn quá chặt, chưa phù hợp với thực tế tại nhiều địa phương. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị điều chỉnh lại tiêu chí thu nhập, đồng thời xem xét lại lãi suất cho vay. Hiện mức 6,6% do Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng vẫn cao hơn so với lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại.

Ba là, lãi suất cho vay nhà ở xã hội trong gói 120.000 tỷ đồng cũng như tín dụng cho người trẻ dưới 35 tuổi vẫn còn cao và chưa ổn định, khiến đa số người có thu nhập thấp khó tiếp cận. Để chương trình tín dụng nhà ở xã hội thực sự hiệu quả, Chính phủ cần cấp vốn cho các ngân hàng thương mại với lãi suất ưu đãi rất thấp, tối đa khoảng 3%/năm, để các ngân hàng cho vay lại với mức khoảng 5%/năm.

Để tháo gỡ khó khăn, Bộ Xây dựng cần tiếp tục rà soát, xử lý vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ dự án, tăng nguồn cung cho thị trường, đồng thời sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định về Quỹ nhà ở quốc gia. Về phía UBND các tỉnh, thành phố, cần tích cực triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm hoàn thành các chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội theo kế hoạch, bảo đảm nguồn cung ổn định ra thị trường.

Gắn kết vốn - dự án - người vay, để chính sách đi vào cuộc sống

Nhiều người cho rằng, tín dụng nhà ở xã hội chỉ cần lãi suất thấp là đủ. Nhưng thực tế, một chính sách tín dụng hiệu quả phải đáp ứng đồng thời 3 yếu tố: lãi suất ổn định trong dài hạn, thủ tục vay minh bạch và cơ chế giám sát chặt chẽ để ngăn chặn trục lợi. Nếu không, sẽ xảy ra tình trạng người thu nhập trung bình cao hưởng lợi, trong khi công nhân, người nghèo thật sự lại đứng ngoài.

Tín dụng nhà ở xã hội không chỉ là một gói hỗ trợ tài chính, mà là chính sách an sinh gắn liền với ổn định xã hội. Người dân không chỉ cần vốn vay, họ cần một dự án ở vị trí thuận tiện, hạ tầng đồng bộ để yên tâm sinh sống. Do đó, cần xác định lại mối quan hệ giữa 3 yếu tố: vốn - dự án - người vay. Nếu chỉ có vốn mà không có dự án khả thi, hoặc có dự án nhưng người dân khó tiếp cận vốn, thì chính sách sẽ rơi vào vòng "luẩn quẩn".

Để chính sách đi vào cuộc sống, trước hết, cần rút ngắn quy trình xét duyệt, áp dụng công nghệ số để quản lý hồ sơ, giảm bớt giấy tờ, vừa tiết kiệm thời gian, vừa hạn chế cơ chế xin - cho. Tiếp đến, đa dạng hóa nguồn vốn ngoài ngân sách và Ngân hàng Chính sách xã hội, cần khuyến khích ngân hàng thương mại tham gia với cơ chế bù lãi suất từ Nhà nước. Phát triển quỹ tiết kiệm nhà ở theo hình thức "góp trước - vay sau" để người lao động chủ động tích lũy.

Song song, quy hoạch dự án phải gắn với nhu cầu thực tế, nhà ở xã hội cần nằm gần khu công nghiệp, dịch vụ, có trường học, bệnh viện, giao thông thuận lợi. Chỉ khi người dân thấy nơi ở thật sự tiện lợi, họ mới sẵn sàng vay vốn để mua.

Cuối cùng, cần tăng cường giám sát và minh bạch thông tin về đối tượng thụ hưởng, danh mục dự án, điều kiện vay. Điều này giúp hạn chế tình trạng mua bán chui, đầu cơ nhà ở xã hội.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước khu vực 15

Đọc thêm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Hơn 3 triệu cổ phiếu được đăng ký mua sau 2 ngày, F88 chuẩn bị chiến lược mới ngoài mảng cầm cố

Hơn 3 triệu cổ phiếu được đăng ký mua sau 2 ngày, F88 chuẩn bị chiến lược mới ngoài mảng cầm cố

(TBTCO) - Hệ thống F88 hiện có gần 1.000 phòng giao dịch trên toàn quốc và đặt mục tiêu trở thành nền tảng tài chính toàn diện, với kế hoạch mở rộng sang các sản phẩm tích lũy và đầu tư. Sau 2 ngày chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, doanh nghiệp đã ghi nhận 3,24 triệu cổ phiếu được đăng ký mua, tương đương khoảng 230 tỷ đồng.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

(TBTCO) - Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển khi mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo đại diện HSBC Việt Nam, trước bài toán xanh, doanh nghiệp có thể tiếp cận đa dạng công cụ tài chính để "xanh hóa" hoạt động thường nhật, thay vì phải chờ một dự án lớn hoặc một khoản vay dài hạn mới có thể tiếp cận nguồn vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Kim TT/AVPL 14,600 ▲150K 14,950 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,600 ▲150K 14,950 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,590 ▲40K 14,940 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,590 ▲40K 14,940 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,590 ▲40K 14,940 ▲90K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,130 ▲90K 14,830 ▲90K
Trang sức 99.99 14,140 ▲90K 14,840 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 ▲1323K 14,992 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 ▲1323K 14,993 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,466 ▲9K 1,496 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,466 ▲9K 1,497 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,441 ▲9K 1,476 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,139 ▲891K 146,139 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,061 ▲675K 110,861 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,728 ▲612K 100,528 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,395 ▲549K 90,195 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,409 ▲524K 86,209 ▲524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,905 ▲46752K 61,705 ▲55572K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cập nhật: 10/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18044 18619
CAD 18056 18331 18947
CHF 32057 32439 33084
CNY 0 3837 3929
EUR 29480 29701 30778
GBP 34535 34927 35859
HKD 0 3223 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14900 15487
SGD 19834 20116 20681
THB 705 768 821
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26464
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,104 26,104 26,474
USD(1-2-5) 25,060 - -
USD(10-20) 25,060 - -
EUR 29,575 29,599 31,003
JPY 158 158.28 167.76
GBP 34,668 34,762 35,956
AUD 17,928 17,993 18,671
CAD 18,226 18,285 18,952
CHF 32,249 32,349 33,292
SGD 19,939 20,001 20,784
CNY - 3,797 3,940
HKD 3,288 3,298 3,435
KRW 16.08 16.77 18.23
THB 752.12 761.41 814.32
NZD 14,852 14,990 15,429
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,957 4,094
NOK - 2,661 2,759
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,038.65 - 6,815.59
TWD 739.64 - 895.61
SAR - 6,883.37 7,252.17
KWD - 83,161 88,443
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26474
AUD 17908 18008 18934
CAD 18218 18318 19329
CHF 32238 32268 33854
CNY 3809.8 3834.8 3970.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29628 29658 31386
GBP 34792 34842 36602
HKD 0 3355 0
JPY 158.88 159.38 169.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19973 20103 20834
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,474
USD20 26,110 26,160 26,474
USD1 23,954 26,160 26,474
AUD 17,965 18,065 19,184
EUR 29,427 29,527 31,208
CAD 18,165 18,265 19,584
SGD 20,053 20,203 20,777
JPY 159.44 160.94 166.59
GBP 34,691 34,841 35,929
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/07/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80