Lãi suất cho vay "ông lớn" ngân hàng quốc doanh nhích lên liên tiếp

(TBTCO) - Theo công bố mới nhất của Vietcombank, lãi suất cho vay bình quân tháng 12/2025 đã tăng lên 5,8%/năm, tháng thứ 2 liên tiếp điều chỉnh tăng, diễn biến tương tự cũng ghi nhận tại BIDV trong bối cảnh nhóm “big 4” đồng loạt tăng lãi suất tiết kiệm. Trước đó, từ tháng 9 - 11/2025, lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống đã tăng trở lại khoảng 0,44%/năm.
aa
Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

Theo công bố mới nhất của Vietcombank, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 12/2025 đã tăng lên 5,8%/năm, đánh dấu tháng thứ 2 liên tiếp ngân hàng này điều chỉnh tăng lãi suất cho vay. Trước đó, Vietcombank duy trì mặt bằng 5,6%/năm trong thời gian dài, trước khi nhích lên 5,7% vào tháng 11/2025 và tăng thêm 0,1 điểm phần trăm trong tháng 12/2025.

Cùng chiều diễn biến này, chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân tại Vietcombank được nới rộng lên 2,8 điểm phần trăm trong tháng 12/2025, cao hơn mức 2,7 điểm phần trăm duy trì suốt 4 tháng trước đó. Đáng chú ý, chênh lệch lãi suất sau khi trừ chi phí, một chỉ tiêu phản ánh sát nhất hiệu quả sinh lời từ hoạt động tín dụng, cũng tăng lên 1,3 điểm phần trăm, so với vùng 1,1 - 1,2 điểm phần trăm ghi nhận trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11/2025.

Lãi suất cho vay
Nguồn: Vietcombank.

Tương tự, BIDV cho biết lãi suất cho vay bình quân trong tháng 12/2025 đã tăng lên 5,6%/năm, từ mức 5,47 - 5,48%/năm được duy trì ổn định trong thời gian dài trước đó. Chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân tại BIDV hiện vẫn xoay quanh mức 2,5%/năm.

Trước đó, vào giữa tháng 12/2025, "big 4" ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV đều đồng loạt điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm tại quầy ở tất cả các kỳ hạn, với mức tăng từ 0,3 - 0,6%/năm. Đây là lần đầu tiên nhóm ngân hàng quốc doanh tăng lãi suất huy động sau hơn 03 năm liên tục điều chỉnh giảm và duy trì mặt bằng lãi suất ở vùng thấp kỷ lục.

Về lãi suất cho vay, theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm. Trong tháng 9/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,52%/năm, giảm 0,41%/năm so với cuối năm 2024.

Tuy nhiên, theo báo cáo tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026, đến cuối tháng 11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024. Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn từ tháng 9 - 11/2025, lãi suất cho vay bình quân đã tăng trở lại khoảng 0,44%/năm.

Lãi suất cho vay
Nguồn: VCBS.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), lãi suất cho vay tiếp tục duy trì ở mức thấp, bất chấp việc lãi suất huy động bắt đầu có xu hướng tăng trở lại khiến biên lãi ròng (NIM) chịu áp lực thu hẹp.

Theo VCBS, tính đến cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn trung bình toàn hệ thống hầu như không thay đổi so với thời điểm cuối năm 2024 và chỉ bắt đầu ghi nhận tăng nhẹ trở lại từ tháng 10/2025. Trong quý cuối năm, tín dụng tăng tốc trong khi áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu khiến Ngân hàng Nhà nước điều tiết cung tiền thận trọng hơn; đồng thời, nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước rút giảm khi vốn đầu tư công được tăng cường giải ngân cũng tạo thêm áp lực lên thanh khoản toàn hệ thống.

Chi phí huy động bình quân ghi nhận trên báo cáo tài chính các ngân hàng niêm yết có xu hướng tăng kể từ quý I/2025, đến cuối quý III/2025 tăng 0,42% so với cuối năm 2024, chủ yếu do môi trường cạnh tranh gay gắt. Trong đó, các ngân hàng nhóm vừa và nhỏ đưa ra mức lãi suất ưu đãi cao hơn lãi suất niêm yết, trong khi một số ngân hàng tư nhân năng động triển khai các tính năng tự động sinh lợi, phân bổ linh hoạt tiền gửi không kỳ hạn sang các kỳ hạn ngắn.

"Mặt bằng lãi suất cho vay trung bình ước tính tăng khoảng 50 - 70 điểm cơ bản trong năm 2026 và tiếp tục duy trì sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng" - VCBS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,400
Hà Nội - PNJ 143,000 146,400
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,400
Miền Tây - PNJ 143,000 146,400
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,400
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 14,010 14,610
Trang sức 99.99 14,020 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 08/09/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18245 18521 19097
CAD 18296 18572 19194
CHF 31522 31902 32546
CNY 0 3834 3931
EUR 29612 29834 30915
GBP 34425 34816 35749
HKD 0 3188 3390
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14992 15580
SGD 20011 20294 20865
THB 706 770 823
USD (1,2) 25756 0 0
USD (5,10,20) 25795 0 0
USD (50,100) 25823 25837 26207
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,865 25,865 26,245
USD(1-2-5) 24,831 - -
USD(10-20) 24,831 - -
EUR 29,685 29,709 31,115
JPY 163.03 163.32 173.17
GBP 34,610 34,704 35,917
AUD 18,464 18,531 19,233
CAD 18,486 18,545 19,230
CHF 31,765 31,864 32,814
SGD 20,142 20,205 21,006
CNY - 3,808 3,953
HKD 3,256 3,266 3,403
KRW 17.85 18.61 20.26
THB 755.74 765.07 818.92
NZD 14,983 15,122 15,571
SEK - 2,670 2,765
DKK - 3,982 4,122
NOK - 2,756 2,857
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.68 - 6,792.11
TWD 745.38 - 903.03
SAR - 6,819.59 7,183.68
KWD - 82,626 87,918
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,717 29,836 31,030
GBP 34,607 34,746 35,778
HKD 3,256 3,269 3,385
CHF 31,641 31,768 32,693
JPY 163.05 163.70 171.66
AUD 18,435 18,509 19,106
SGD 20,216 20,297 20,894
THB 772 775 812
CAD 18,501 18,575 19,169
NZD 15,073 15,618
KRW 18.64 20.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25840 25840 26200
AUD 18425 18525 19456
CAD 18470 18570 19582
CHF 31754 31784 33374
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29784 29814 31537
GBP 34709 34759 36527
HKD 0 3330 0
JPY 164.88 165.38 175.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.6 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15099 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 736.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 08/09/2026 05:30
Ngân hàng