Định nghĩa toàn diện về kinh tế nhà nước
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 79-NQ/TW là mở rộng và định nghĩa một cách toàn diện về nền tảng của kinh tế nhà nước. Tại các văn kiện trước đây, kinh tế nhà nước luôn được khẳng định là vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên nền tảng của kinh tế nhà nước chưa được nêu cụ thể.
Tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, nền tảng của kinh tế nhà nước được nêu rõ bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, đơn vị sự nghiệp công lập...
![]() |
| Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, đóng vai trò dẫn dắt, tạo động lực phát triển. Ảnh: Đức Thanh |
Nghị quyết cũng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.
Kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác. Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế; giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường và xã hội; tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh.
Đảm bảo kinh phí cho các dịch vụ công cơ bản, thiết yếuNghị quyết số 79-NQ/TW đề ra các nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, bảo đảm kinh phí cho các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu; kiên quyết không để việc thiếu nguồn lực dẫn tới giảm chất lượng phục vụ người dân. Đối với các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao, sẽ chuyển sang thực hiện theo cơ chế thị trường. Các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tối thiểu chi thường xuyên trở lên được tự chủ về tổ chức bộ máy, tiền lương và các khoản thù lao, đãi ngộ khác, tuyển dụng và sử dụng nhân sự theo kết quả hoạt động như doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. |
Về các mục tiêu cụ thể, Nghị quyết đặt ra lộ trình đến năm 2030, phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.
Xây dựng lộ trình phù hợp để triển khai các loại thuế mới
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết yêu cầu triển khai mạnh mẽ, thực chất một loạt nhóm giải pháp, nhiệm vụ cụ thể.
Trong đó, có nhóm nhiệm vụ quan trọng về lĩnh vực ngân sách nhà nước. Nghị quyết nêu rõ, cần đổi mới quản lý, điều hành ngân sách nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới; phân định rõ vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực ngân sách.
Đồng thời, chủ động nghiên cứu và xây dựng lộ trình phù hợp để triển khai các loại thuế mới liên quan đến tài sản, mức phát thải carbon…, bảo đảm bao quát các nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế…; hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thu.
Ngân sách trung ương tập trung đầu tư các công trình hạ tầng chiến lược, kết nối liên vùng, khu vực và quốc tế. Địa phương chủ động quyết định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối nguồn lực, theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".
Ngoài ra, hạn chế tối đa việc quy định cụ thể tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho từng ngành, lĩnh vực, đối tượng (trừ những ngành, lĩnh vực có quy định riêng theo các nghị quyết của Đảng) nhằm bảo đảm tính linh hoạt, hiệu quả trong phân bổ, bố trí nguồn ngân sách nhà nước, phù hợp với các ưu tiên chính sách trong từng năm, từng giai đoạn cụ thể.
Đối với lĩnh vực dự trữ quốc gia, nhiệm vụ đặt ra là tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế dự trữ quốc gia bảo đảm đồng bộ; tích hợp định hướng yêu cầu duy trì nguồn lực dự trữ quốc gia trong các chiến lược về quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, an sinh xã hội. Bên cạnh đó, rà soát danh mục hàng hóa, củng cố hệ thống kho tàng, tăng cường đầu tư, cải cách quy trình, thủ tục xuất cấp để dự trữ quốc gia thực sự trở thành nguồn lực dự trữ chiến lược, cho phép Nhà nước có đủ năng lực can thiệp, hỗ trợ kịp thời trong các tình huống thiên tai, thảm họa.
Tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp
Liên quan đến các quỹ ngoài ngân sách, Nghị quyết yêu cầu rà soát, sáp nhập, giải thể các quỹ ngoài ngân sách trùng lặp, kém hiệu quả; giảm đầu mối để tăng quy mô, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các quỹ; tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình quản lý, sử dụng các quỹ. Không hình thành mới quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trừ các trường hợp cấp bách, cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu đặt ra là tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế như quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính - ngân hàng; khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số; khai thác, chế biến khoáng sản chiến lược; hóa chất; xây dựng, vật liệu xây dựng; nông, lâm nghiệp…
Đồng thời, có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ, bao gồm: cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp; rà soát, đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng; khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao các doanh nghiệp nhằm phát huy lợi thế tổng thể của ngành kinh tế.
Đối với dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ở nước ngoài do cấp có thẩm quyền giao ngoài kế hoạch của doanh nghiệp, Nhà nước có chính sách bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cung cấp đủ tín dụng.

