Hỗ trợ lãi suất 2% kích dòng vốn xanh, giám sát chặt tình trạng “tẩy xanh”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng xanh đang có dấu hiệu đuối sức, tăng trưởng thấp hơn cả giai đoạn trước lẫn mức chung của toàn nền kinh tế. Hiện Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách, nhằm tạo cú hích mới cho khu vực tư nhân đầu tư dự án xanh, song khâu thẩm định và giám sát cần chặt chẽ để tránh “tẩy xanh”.
aa

Tín dụng xanh đuối dần

Thời gian qua, ngành ngân hàng tiếp tục góp phần hỗ trợ tích cực cho mục tiêu xanh hóa nền kinh tế. Trên cơ sở hướng dẫn và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng dành sự quan tâm và nguồn lực để cho vay khách hàng thực hiện các dự án mang lại lợi ích cho môi trường.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, có thể thấy, thời gian qua chứng kiến sự phát triển cả về quy mô tổ chức tín dụng tham gia cho vay, quy mô dư nợ tín dụng và tốc độ tăng trưởng. Theo đó, từ năm 2017 chỉ có 15 tổ chức tín dụng triển khai cho vay tín dụng xanh, đến nay đã có 58 tổ chức tín dụng báo cáo có phát sinh dư nợ tín dụng xanh. Các tổ chức tín dụng đã ban hành các chính sách xanh của tổ chức mình để hỗ trợ khách hàng.

Hỗ trợ lãi suất 2% kích dòng vốn xanh, giám sát chặt tình trạng “tẩy xanh”
Tín dụng xanh - đòn bẩy phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam. Ảnh: Chí Thanh

Tính đến cuối tháng 6/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 730.000 tỷ đồng, tăng 7,35% so với cuối năm 2024, chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, đà tăng trưởng tín dụng xanh đang đuối dần, khi mức tăng này (7,35%) thấp hơn tốc độ tăng tín dụng chung của nền kinh tế (9,9%). Đồng thời, thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân giai đoạn 2017 - 2024 là hơn 21,2%/năm, đây là thời kỳ mà tín dụng xanh thường tăng nhanh hơn đáng kể so với tín dụng toàn nền kinh tế (10 - 15%).

Trong tờ trình Chính phủ về dự thảo Nghị định quy định về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vay vốn tại các ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG), Ngân hàng Nhà nước cho rằng, bên cạnh nguồn vốn cho vay từ hệ thống ngân hàng thương mại, cần có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tiếp cận vốn thuận lợi hơn, nâng cao năng lực quản trị môi trường - xã hội, bắt kịp xu hướng phát triển bền vững và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.

Chia sẻ gần đây, Phó Thống đốc Đoàn Thái Sơn cho biết, Ngân hàng Nhà nước sắp trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp khu vực tư nhân, hộ và cá nhân kinh doanh vay vốn tại ngân hàng thương mại để triển khai dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).

Hỗ trợ lãi suất kích hoạt dòng vốn xanh

Cơ chế "kép" giữa Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, cùng chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm tạo ra nền tảng chiến lược để Việt Nam tiến gần hơn đến mục tiêu phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Theo đó, Quyết định 21/2025/QĐ-TTg là công cụ định hướng, xác định rõ những lĩnh vực trọng điểm có khả năng cắt giảm phát thải mạnh nhất. Còn chính sách hỗ trợ lãi suất 2% là công cụ tài chính trực tiếp, giúp biến các định hướng chiến lược thành hành động cụ thể, tạo ra một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, kết nối khoa học, tài chính và công nghệ trong tiến trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ

Nghị định được ban hành nhằm triển khai Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Theo đó, đối tượng được hỗ trợ là doanh nghiệp khu vực tư nhân, hộ và cá nhân kinh doanh vay vốn tại ngân hàng thương mại, không bao gồm doanh nghiệp nhà nước và tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài.

Để được hưởng hỗ trợ, khách hàng phải có đề nghị hỗ trợ lãi suất, đáp ứng điều kiện vay vốn hợp pháp và khoản vay phải phục vụ dự án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đạt tiêu chí xanh, tuần hoàn, ESG, có tên trong danh sách công bố trên Cổng thông tin của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Danh sách này được cập nhật định kỳ vào ngày 30/6 và 31/12 hằng năm, làm cơ sở để ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát và thực hiện việc hỗ trợ lãi suất.

Hỗ trợ trúng giúp khu vực tư nhân đón cơ hội xanh

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nhiều doanh nghiệp lớn, đơn cử như Vinamilk tích cực triển khai các tiêu chuẩn ESG bởi sản phẩm sẽ có cơ hội "gõ cửa" các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, nơi người tiêu dùng và nhà nhập khẩu đều yêu cầu khắt khe về tiêu chí xanh, bền vững và trách nhiệm xã hội.

Cùng với đó, nhiều doanh nghiệp FDI cũng chủ động chuyển đổi xanh, vừa thúc đẩy tăng trưởng doanh thu, vừa bảo vệ môi trường và đáp ứng các tiêu chí xã hội. Vì vậy, theo ông Linh, việc hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này là không thực sự cần thiết.

Ở chiều ngược lại, phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn hoạt động trong các lĩnh vực truyền thống, chủ yếu phục vụ thị trường nội địa, nơi người tiêu dùng chưa thực sự quan tâm đến yếu tố xanh hay ESG.

"Doanh nghiệp tư nhân, hộ và cá nhân kinh doanh chính là nhóm đối tượng cần được thụ hưởng chính sách nhất, bởi khi chuyển đổi xanh, doanh nghiệp có thể gia tăng doanh số, tạo thiện cảm thương hiệu và tạo chuyển hoá, tạo nên xu hướng tiêu dùng mới của người dân" - ông Linh nhận định.

Đơn cử như Mỹ Hảo, nếu được hỗ trợ đầu tư sản xuất chai tái chế như Unilever đã làm, sẽ là hướng đi đúng cho chuyển đổi xanh. Ngoài bao bì, nguyên liệu bên trong cũng cần thay đổi, từ hóa chất tổng hợp sang nguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn chiết xuất từ dầu cọ hoặc nguyên liệu sinh học. Vì vậy, rất cần chính sách khuyến khích doanh nghiệp nội địa chuyển đổi.

Cũng theo PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, việc hỗ trợ lãi suất đối với khu vực tư nhân yếu tố then chốt để vượt qua rào cản chi phí đầu tư ban đầu trong các lĩnh vực như: năng lượng tái tạo, tái chế, xử lý chất thải, nông nghiệp thông minh hay giao thông xanh, giúp tái cấu trúc dòng vốn theo hướng ưu tiên cho hoạt động kinh tế thân thiện môi trường, qua đó lan tỏa tín hiệu thị trường rõ ràng cho xu hướng đầu tư bền vững.

TS. Châu Đình Linh lưu ý thêm, thẩm định dự án xanh không chỉ dừng ở tiêu chí môi trường, yếu tố “xanh” của dự án, mà còn phải xem xét khả năng tạo dòng tiền, mức sinh lời, phương án trả nợ gốc - lãi và khả năng thu hồi vốn. Khâu thẩm định và giám sát rất quan trọng, bảo đảm vốn tín dụng sử dụng đúng mục đích, tránh tình trạng “tẩy xanh”.

Cách làm mới trong hỗ trợ lãi suất 2%

Vận dụng kinh nghiệm thực tiễn từ một số địa phương trong triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất như TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Tuyên Quang và một số chương trình đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp, Ngân hàng Nhà nước cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện phương thức này để thực hiện hỗ trợ lãi suất.

Theo đó, ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp xã sẽ quyết định hỗ trợ lãi suất trực tiếp cho khách hàng. Mức lãi suất hỗ trợ đối với khách hàng là 2%/năm, tính trên số dư nợ gốc tiền vay và thời hạn được hỗ trợ lãi suất.

Các ngân hàng thương mại có trách nhiệm thẩm định, cho vay đúng đối tượng thụ hưởng và đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Đồng thời, ngân hàng phải định kỳ cung cấp hồ sơ khoản vay, số tiền hỗ trợ lãi suất để ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp xã có cơ sở thực hiện chi trả hỗ trợ theo quy định; phối hợp với chính quyền địa phương trong triển khai và giám sát việc hỗ trợ. Trường hợp phát hiện khoản vay vi phạm điều kiện hỗ trợ, ngân hàng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để thu hồi số tiền đã hỗ trợ lãi suất theo quy định.

"Với phương thức hỗ trợ lãi suất này, các địa phương thực hiện theo quy trình dự toán chi ngân sách của địa phương hằng năm, nắm bắt sát nhu cầu hỗ trợ thực tế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân trên địa bàn, góp phần giảm thời gian, thủ tục, tăng hiệu quả và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của Nhà nước" - Ngân hàng Nhà nước đánh giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80