Lợi nhuận quý III ngân hàng "khựng" đà tăng vì tín dụng chậm lại và NIM co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Quý III/2025, lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 24,9% so với cùng kỳ, song tốc độ tăng chững lại khi tín dụng chỉ tăng 4% và NIM tiếp tục co hẹp. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh tối ưu nguồn vốn và mở rộng thu ngoài lãi, song điều này không dễ khi chỉ khoảng 20% có nguồn thu ngoài lãi thực sự bền vững.
aa
Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%
NIM dò đáy, áp lực lợi nhuận lộ diện đằng sau đà tăng tín dụng

Công ty Cổ phần FiinGroup vừa phát hành báo cáo kết quả kinh doanh quý III/2025: “Điểm sáng bứt phá từ nhóm vốn hóa vừa và nhỏ”, nhằm cung cấp góc nhìn tổng quan về hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường.

Tín dụng tăng chậm lại 4%, NIM giảm còn 3%

Cơ sở dữ liệu phân tích bao phủ 1.114/1.654 công ty niêm yết, trong đó có 27/27 ngân hàng. Tổng vốn hóa thị trường đến ngày 7/11/2025 đạt khoảng 9 triệu tỷ đồng, tương đương 333 tỷ USD, chiếm khoảng 99% vốn hóa toàn bộ ba sàn HOSE, HNX và UPCoM; trong đó, vốn hoá ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng 28,1% toàn thị trường.

Lợi nhuận quý III ngân hàng

Theo báo cáo từ FiinGroup, với ngành ngân hàng, lợi nhuận sau thuế quý III/2025 tăng 24,9% so với cùng kỳ, nhưng chững lại so với quý II trước đó (giảm 1,6% theo quý) do biên lãi ròng (NIM) thu hẹp và tăng trưởng tín dụng chậm lại.

Tính đến hết 9 tháng 2025, phần lớn các ngành đã hoàn thành trên 85% kế hoạch lợi nhuận cả năm, cho thấy kết quả kinh doanh bám sát mục tiêu đề ra. Ngược lại, ngành ngân hàng và ngành bất động sản là hai nhóm có tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thấp nhất, lần lượt khoảng 74,6% và 52,5%.

Thu ngoài lãi kéo lợi nhuận tăng gần 25%, song đà tăng chậm lại

"Lợi nhuận ngành ngân hàng quý III/2025 tăng 24,9% so với cùng kỳ, đạt mức cao nhất trong 7 quý gần đây nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, đặc biệt tại VPBank, VietinBank, SHB và chi phí dự phòng giảm tại VietinBank, Sacombank, BVBank, OCB. Tuy nhiên, lợi nhuận đã chững lại so với mức đỉnh quý II khi giảm 1,6% theo quý" - nhóm phân tích từ FiinGroup đánh giá.

Lý giải lợi nhuận quý III sụt giảm nhẹ so với quý trước, theo FiinGroup, động lực tăng trưởng suy yếu khi tín dụng tăng 4% theo quý (giảm tốc so với mức 6,3% của quý II) và NIM tiếp tục thu hẹp do chi phí huy động tăng nhanh.

Theo đó, tăng trưởng tín dụng quý III/2025 đạt 4% theo quý, giảm tốc so với mức quý trước, chủ yếu ghi nhận ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng tư nhân lớn.

Ngược lại, một số ngân hàng khác như BVBank và Sacombank có tăng trưởng tín dụng tích cực hơn trong quý III.

Cùng với đó, tỷ lệ cho vay/huy động (LDR thuần) lập đỉnh đạt mức cao kỷ lục 111%, trong khi lãi suất cho vay chưa được điều chỉnh tăng tương ứng.

Do đó, tăng trưởng lợi nhuận phân hóa mạnh khi nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ tăng trưởng cao, trong khi nhóm ngân hàng lớn chứng kiến sự sụt giảm hoặc tăng trưởng chậm. Tín dụng chững lại càng tạo áp lực lên tăng trưởng lợi nhuận cốt lõi của toàn ngành.

"Lợi nhuận “lõi” tiếp tục chịu áp lực kép từ tăng trưởng tín dụng chậm và NIM hồi phục yếu hoặc thậm chí thu hẹp do chi phí vốn gia tăng" - FiinGroup nhận định.

Ngân hàng “xoay trục” tìm nguồn thu ngoài lãi bền vững

Cũng theo FiinGroup, NIM tiếp tục phục hồi ở nhiều ngân hàng tư nhân, nhưng vẫn neo ở vùng đáy đối với nhóm ngân hàng quốc doanh. NIM toàn ngành giảm về khoảng 3%, mức thấp nhất từ cuối năm 2018, chủ yếu do có ngân hàng ghi nhận mức giảm sâu tới 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2024 và so với quý II/2025.

Trong khi đó, một số ngân hàng tư nhân tiếp tục phục hồi NIM, nổi bật gồm Sacombank, VPBank, OCB, MB, VIB nhờ duy trì tăng trưởng tín dụng và tỷ trọng cho vay bán lẻ cao. Riêng Sacombank còn được hỗ trợ từ khoản thu nhập lãi ghi nhận lại liên quan đến các khoản tái cơ cấu tại Khu công nghiệp Phong Phú.

Ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank duy trì NIM thấp 2 - 2,6% do phải ưu tiên ổn định lãi suất cho vay, trong khi chi phí vốn tăng nhanh.

Lợi nhuận quý III ngân hàng

Trong bối cảnh NIM thu hẹp, các ngân hàng đang đẩy mạnh tìm kiếm các nguồn thu ngoài lãi, hoặc tối ưu chi phí vốn.

Chia sẻ gần đây, bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính - Kế hoạch Techcombank cho biết, tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng đạt 14,2 nghìn tỷ đồng trong quý III/2025, tăng 21,2% so với cùng kỳ.

Trong cơ cấu này, thu nhập lãi thuần đóng góp gần 10.000 tỷ đồng, tăng 11,2%; thu nhập từ dịch vụ cũng tăng gần 17%, đạt 2,3 nghìn tỷ đồng. Riêng quý này, Techcombank ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc ở khoản thu nhập khác, chủ yếu đến từ kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư nhờ tận dụng diễn biến tích cực của thị trường.

Theo đánh giá của đại diện Techcombank, NIM có khả năng chạm đáy trong nửa đầu năm 2025 và bắt đầu có dấu hiệu cải thiện.

Chỉ 20% số ngân hàng thu ngoài lãi bền vững

"Trong 27 ngân hàng niêm yết, chỉ khoảng 20% có nguồn thu ngoài lãi thật sự bền vững; số còn lại vẫn mang tính nhất thời. Do đó, có ngân hàng ghi nhận tăng trưởng thu ngoài lãi, nhưng cũng có ngân hàng chững lại hoặc giảm, phản ánh sự khác biệt lớn về mức độ bền vững của từng mô hình" - TS. Châu Đình Linh nhìn nhận.

Dù vậy, chỉ có một số ít ngân hàng sở hữu nguồn thu ngoài lãi mang tính bền vững thực sự.

Theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, tính bền vững được hiểu ở đây là tỷ trọng đóng góp của thu nhập ngoài lãi vào tổng thu nhập và tổng lợi nhuận phải duy trì ổn định, tăng trưởng đều qua các năm. Có những ngân hàng đạt tỷ trọng thu ngoài lãi 20 - 30%, khiến tỷ trọng thu nhập lãi thuần chỉ còn trên 70% và có xu hướng giảm dần theo thời gian. Điều đó cho thấy phần tăng thêm đến từ thu nhập ngoài lãi và mô hình này được lặp lại qua từng năm, đúng nghĩa “bền vững”.

Theo đó, các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ kéo dài hơn chục năm, nguồn thu phí dịch vụ thanh toán, phí thẻ thường niên, hay doanh thu từ mảng tài chính như: trái phiếu, cổ phiếu… đều là những dòng thu có tính chất lặp lại và duy trì ổn định. Thêm vào đó là thu từ đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng chỉ tiền gửi trên các ứng dụng ngân hàng số của Techcombank, MB, VPBank… Đây là những hoạt động tạo ra dòng thu ngoài lãi đều đặn và lâu dài.

Ngược lại, phần lớn các ngân hàng còn lại có cơ cấu thu ngoài lãi không bền vững, vì chủ yếu đến từ các khoản thu một lần như phí chuyển tiền, phí dịch vụ... không lặp lại hoặc không có tính tăng trưởng cao. Một số ngân hàng đang nỗ lực thúc đẩy bán chéo sản phẩm để nâng tỷ trọng thu ngoài lãi, nhưng mô hình vẫn chưa hoàn thiện./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80