Lợi nhuận quý III ngân hàng "khựng" đà tăng vì tín dụng chậm lại và NIM co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Quý III/2025, lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 24,9% so với cùng kỳ, song tốc độ tăng chững lại khi tín dụng chỉ tăng 4% và NIM tiếp tục co hẹp. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh tối ưu nguồn vốn và mở rộng thu ngoài lãi, song điều này không dễ khi chỉ khoảng 20% có nguồn thu ngoài lãi thực sự bền vững.
aa
Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%
NIM dò đáy, áp lực lợi nhuận lộ diện đằng sau đà tăng tín dụng

Công ty Cổ phần FiinGroup vừa phát hành báo cáo kết quả kinh doanh quý III/2025: “Điểm sáng bứt phá từ nhóm vốn hóa vừa và nhỏ”, nhằm cung cấp góc nhìn tổng quan về hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường.

Tín dụng tăng chậm lại 4%, NIM giảm còn 3%

Cơ sở dữ liệu phân tích bao phủ 1.114/1.654 công ty niêm yết, trong đó có 27/27 ngân hàng. Tổng vốn hóa thị trường đến ngày 7/11/2025 đạt khoảng 9 triệu tỷ đồng, tương đương 333 tỷ USD, chiếm khoảng 99% vốn hóa toàn bộ ba sàn HOSE, HNX và UPCoM; trong đó, vốn hoá ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng 28,1% toàn thị trường.

Lợi nhuận quý III ngân hàng

Theo báo cáo từ FiinGroup, với ngành ngân hàng, lợi nhuận sau thuế quý III/2025 tăng 24,9% so với cùng kỳ, nhưng chững lại so với quý II trước đó (giảm 1,6% theo quý) do biên lãi ròng (NIM) thu hẹp và tăng trưởng tín dụng chậm lại.

Tính đến hết 9 tháng 2025, phần lớn các ngành đã hoàn thành trên 85% kế hoạch lợi nhuận cả năm, cho thấy kết quả kinh doanh bám sát mục tiêu đề ra. Ngược lại, ngành ngân hàng và ngành bất động sản là hai nhóm có tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thấp nhất, lần lượt khoảng 74,6% và 52,5%.

Thu ngoài lãi kéo lợi nhuận tăng gần 25%, song đà tăng chậm lại

"Lợi nhuận ngành ngân hàng quý III/2025 tăng 24,9% so với cùng kỳ, đạt mức cao nhất trong 7 quý gần đây nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, đặc biệt tại VPBank, VietinBank, SHB và chi phí dự phòng giảm tại VietinBank, Sacombank, BVBank, OCB. Tuy nhiên, lợi nhuận đã chững lại so với mức đỉnh quý II khi giảm 1,6% theo quý" - nhóm phân tích từ FiinGroup đánh giá.

Lý giải lợi nhuận quý III sụt giảm nhẹ so với quý trước, theo FiinGroup, động lực tăng trưởng suy yếu khi tín dụng tăng 4% theo quý (giảm tốc so với mức 6,3% của quý II) và NIM tiếp tục thu hẹp do chi phí huy động tăng nhanh.

Theo đó, tăng trưởng tín dụng quý III/2025 đạt 4% theo quý, giảm tốc so với mức quý trước, chủ yếu ghi nhận ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng tư nhân lớn.

Ngược lại, một số ngân hàng khác như BVBank và Sacombank có tăng trưởng tín dụng tích cực hơn trong quý III.

Cùng với đó, tỷ lệ cho vay/huy động (LDR thuần) lập đỉnh đạt mức cao kỷ lục 111%, trong khi lãi suất cho vay chưa được điều chỉnh tăng tương ứng.

Do đó, tăng trưởng lợi nhuận phân hóa mạnh khi nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ tăng trưởng cao, trong khi nhóm ngân hàng lớn chứng kiến sự sụt giảm hoặc tăng trưởng chậm. Tín dụng chững lại càng tạo áp lực lên tăng trưởng lợi nhuận cốt lõi của toàn ngành.

"Lợi nhuận “lõi” tiếp tục chịu áp lực kép từ tăng trưởng tín dụng chậm và NIM hồi phục yếu hoặc thậm chí thu hẹp do chi phí vốn gia tăng" - FiinGroup nhận định.

Ngân hàng “xoay trục” tìm nguồn thu ngoài lãi bền vững

Cũng theo FiinGroup, NIM tiếp tục phục hồi ở nhiều ngân hàng tư nhân, nhưng vẫn neo ở vùng đáy đối với nhóm ngân hàng quốc doanh. NIM toàn ngành giảm về khoảng 3%, mức thấp nhất từ cuối năm 2018, chủ yếu do có ngân hàng ghi nhận mức giảm sâu tới 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2024 và so với quý II/2025.

Trong khi đó, một số ngân hàng tư nhân tiếp tục phục hồi NIM, nổi bật gồm Sacombank, VPBank, OCB, MB, VIB nhờ duy trì tăng trưởng tín dụng và tỷ trọng cho vay bán lẻ cao. Riêng Sacombank còn được hỗ trợ từ khoản thu nhập lãi ghi nhận lại liên quan đến các khoản tái cơ cấu tại Khu công nghiệp Phong Phú.

Ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank duy trì NIM thấp 2 - 2,6% do phải ưu tiên ổn định lãi suất cho vay, trong khi chi phí vốn tăng nhanh.

Lợi nhuận quý III ngân hàng

Trong bối cảnh NIM thu hẹp, các ngân hàng đang đẩy mạnh tìm kiếm các nguồn thu ngoài lãi, hoặc tối ưu chi phí vốn.

Chia sẻ gần đây, bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính - Kế hoạch Techcombank cho biết, tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng đạt 14,2 nghìn tỷ đồng trong quý III/2025, tăng 21,2% so với cùng kỳ.

Trong cơ cấu này, thu nhập lãi thuần đóng góp gần 10.000 tỷ đồng, tăng 11,2%; thu nhập từ dịch vụ cũng tăng gần 17%, đạt 2,3 nghìn tỷ đồng. Riêng quý này, Techcombank ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc ở khoản thu nhập khác, chủ yếu đến từ kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư nhờ tận dụng diễn biến tích cực của thị trường.

Theo đánh giá của đại diện Techcombank, NIM có khả năng chạm đáy trong nửa đầu năm 2025 và bắt đầu có dấu hiệu cải thiện.

Chỉ 20% số ngân hàng thu ngoài lãi bền vững

"Trong 27 ngân hàng niêm yết, chỉ khoảng 20% có nguồn thu ngoài lãi thật sự bền vững; số còn lại vẫn mang tính nhất thời. Do đó, có ngân hàng ghi nhận tăng trưởng thu ngoài lãi, nhưng cũng có ngân hàng chững lại hoặc giảm, phản ánh sự khác biệt lớn về mức độ bền vững của từng mô hình" - TS. Châu Đình Linh nhìn nhận.

Dù vậy, chỉ có một số ít ngân hàng sở hữu nguồn thu ngoài lãi mang tính bền vững thực sự.

Theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, tính bền vững được hiểu ở đây là tỷ trọng đóng góp của thu nhập ngoài lãi vào tổng thu nhập và tổng lợi nhuận phải duy trì ổn định, tăng trưởng đều qua các năm. Có những ngân hàng đạt tỷ trọng thu ngoài lãi 20 - 30%, khiến tỷ trọng thu nhập lãi thuần chỉ còn trên 70% và có xu hướng giảm dần theo thời gian. Điều đó cho thấy phần tăng thêm đến từ thu nhập ngoài lãi và mô hình này được lặp lại qua từng năm, đúng nghĩa “bền vững”.

Theo đó, các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ kéo dài hơn chục năm, nguồn thu phí dịch vụ thanh toán, phí thẻ thường niên, hay doanh thu từ mảng tài chính như: trái phiếu, cổ phiếu… đều là những dòng thu có tính chất lặp lại và duy trì ổn định. Thêm vào đó là thu từ đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng chỉ tiền gửi trên các ứng dụng ngân hàng số của Techcombank, MB, VPBank… Đây là những hoạt động tạo ra dòng thu ngoài lãi đều đặn và lâu dài.

Ngược lại, phần lớn các ngân hàng còn lại có cơ cấu thu ngoài lãi không bền vững, vì chủ yếu đến từ các khoản thu một lần như phí chuyển tiền, phí dịch vụ... không lặp lại hoặc không có tính tăng trưởng cao. Một số ngân hàng đang nỗ lực thúc đẩy bán chéo sản phẩm để nâng tỷ trọng thu ngoài lãi, nhưng mô hình vẫn chưa hoàn thiện./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80