NIM dò đáy, áp lực lợi nhuận lộ diện đằng sau đà tăng tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều phân tích đều cho rằng, NIM ngành ngân hàng nhiều khả năng đã chạm đáy trong nửa đầu 2025 nhưng khó phục hồi vượt mức 2024 tính chung cả năm nay. Tín dụng tăng mạnh chỉ là "phần nổi", trong khi "phần chìm" là áp lực lợi nhuận khi NIM co hẹp, đòi hỏi đối sách dài hạn thay vì hy sinh NIM ngắn hạn.
aa
NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng

Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Trong báo cáo cập nhật về ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, sự sụt giảm bất ngờ biên lãi ròng (NIM) trong quý I chỉ là tạm thời, dự báo NIM trong phần còn lại của năm 2025 sẽ không thấp hơn so với đầu năm, song khó có thể phục hồi vượt mức của năm 2024.

Nhiều khả năng NIM đã chạm đáy

MBS phân tích, dù lãi suất cho vay dự kiến duy trì ở mức thấp hơn so với năm 2024 trong cuối năm 2025, tăng trưởng tín dụng bán lẻ, đặc biệt từ cho vay mua nhà và tiêu dùng, sẽ đóng góp quan trọng cho sự phục hồi của NIM. Ngoài ra, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cải thiện, chủ yếu nhờ tín dụng doanh nghiệp hồi phục mạnh, sẽ tiếp tục hỗ trợ chi phí vốn duy trì ở mức thấp trong vòng 6 - 9 tháng tới.

"Chúng tôi kỳ vọng NIM của khối ngân hàng niêm yết nhiều khả năng đã chạm đáy từ quý II/2025, nhưng khó có thể phục hồi vượt mức của năm 2024. Thu nhập lãi thuần cũng được điều chỉnh giảm so với dự báo trước đó do áp lực suy giảm NIM lớn hơn kỳ vọng, dù cho thấy có dấu hiệu tạo đáy trong quý II/2025" - MBS nhận định.

Trong báo cáo mới đây, nhóm chuyên gia Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng đánh giá NIM nhiều khả năng đã tạo đáy, do chịu tác động từ việc giảm lãi phải thu và cạnh tranh lãi suất đầu ra.

NIM dò đáy, áp lực lợi nhuận lộ diện đằng sau đà tăng tín dụng
Nguồn: FiinGroup.

NIM cải thiện cục bộ, chưa tạo "điểm đảo chiều"

Chuyên gia FiinGroup cho rằng, sự cải thiện NIM trong quý II/2025 chỉ ghi nhận ở một số ngân hàng tư nhân quy mô vừa và nhỏ như: SHB (tăng 1,77 điểm phần trăm) và HDB (tăng 0,9 điểm phần trăm), trong khi phần lớn ngân hàng lớn chỉ đi ngang (BIDV, ACB) hoặc tiếp tục giảm (Vietcombank, VietinBank, MB). Điều này cho thấy chưa thể coi đây là “điểm đảo chiều” của NIM.

Theo bà Đỗ Hồng Vân - Trưởng phòng Phân tích Dữ liệu, Công ty cổ phần FiinGroup, NIM toàn ngành đi ngang ở mức 3,05%, thấp nhất trong 5 năm, nhưng cũng đánh dấu quý đầu tiên không tiếp tục suy giảm sau 6 quý giảm liên tiếp.

Điều này có được nhờ lợi suất cho vay và đầu tư cải thiện mạnh hơn so với tốc độ tăng chi phí vốn. Đồng thời, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR thuần) đạt mức rất cao 108,5%, cho thấy các ngân hàng tận dụng tối đa nguồn vốn để mở rộng cho vay, qua đó giúp NIM ngừng giảm trong quý II.

Tuy nhiên, chuyên gia của FiinGroup cho rằng, dư địa cải thiện NIM không còn nhiều nếu huy động vốn không bắt kịp tín dụng, đặc biệt khi cuối năm thường phát sinh áp lực tăng lãi suất huy động để đáp ứng nhu cầu vốn cao. Hơn nữa, trong bối cảnh Chính phủ vẫn ưu tiên ổn định lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng, nên khả năng cải thiện NIM trong nửa cuối năm khá hạn chế.

Động lực giúp NIM cải thiện nhẹ cuối năm

Trong thời gian cuối năm, VDSC kỳ vọng NIM sẽ cải thiện nhẹ với ba động lực chính. Thứ nhất, nhu cầu vay trung và dài hạn khả quan hơn, kết hợp với chất lượng tài sản lành mạnh, giúp cải thiện lợi suất tài sản sinh lãi.

Thứ hai, nguồn vốn giải ngân đầu tư công dồi dào ước tính trên 500 nghìn tỷ đồng và việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng thương mại tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém từ quý IV/2025 khoảng 40 nghìn tỷ đồng sẽ giúp giải tỏa áp lực thanh khoản, ổn định mặt bằng lãi suất huy động.

Thứ ba, trên thực tế, áp lực thanh khoản đã xuất hiện từ đầu tháng 8 khi lãi suất liên ngân hàng bình quân tăng mạnh, có lúc gần 6%, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm vốn qua kênh thị trường mở (OMO), đưa quy mô lưu hành chạm ngưỡng 200 nghìn tỷ đồng.

Nhìn lại toàn cảnh bức tranh NIM ngành ngân hàng, ông Lê Hoài Ân, CFA - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, trong khi tăng trưởng tín dụng diễn biến tích cực trong nửa đầu năm 2025, NIM toàn ngành tiếp tục bị bào mòn bởi chính sách giảm lãi suất, cơ cấu tài sản chuyển dịch sang các phân khúc ưu đãi và việc ứng dụng công nghệ để tiết giảm chi phí hoạt động đang trở thành lợi thế cạnh tranh rất lớn giữa các ngân hàng.

"Điều này đặt ra thách thức lớn cho ngành trong việc cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và hiệu quả sinh lời, một bài toán không đơn giản trong môi trường vĩ mô đang chuyển động nhanh chóng" - ông Ân nhấn mạnh.

Theo đó, trong khi các ngân hàng quốc doanh lớn Vietcombank, VietinBank, BIDV, vốn có lợi thế chi phí vốn thấp nhờ CASA cao lại ghi nhận NIM tiếp tục giảm sâu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù danh mục tín dụng ưu tiên, tập trung vào khách hàng doanh nghiệp lớn, các dự án trọng điểm và vốn đầu tư công, những khoản vay thường có lãi suất thấp nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế.

Trong khi nhóm quốc doanh giữ vai trò ổn định hệ thống, các ngân hàng cổ phần đang đối diện áp lực tìm lại hiệu quả sinh lời trong bối cảnh tín dụng bùng nổ nhưng NIM co lại.

Nhóm chuyên cho vay cá nhân như VIB, ACB chịu tác động nặng nề khi nhu cầu tiêu dùng suy yếu và các ngân hàng buộc phải giảm lãi suất để giữ tăng trưởng. Đơn cử, VIB còn 3,4%, ACB giữ ở mức 3,2%.

Ngược lại, nhóm cho vay doanh nghiệp và nhóm ngân hàng khác với chiến lược tăng trưởng ngách lại giữ NIM tốt hơn. HDBank dẫn đầu toàn ngành với NIM 5,2% nhờ cho vay ở thị trường nông thôn, tiểu thương. SHB cải thiện mạnh từ 3,2% lên 3,7% nhờ tái cơ cấu danh mục và đẩy mạnh thu ngoài lãi. KienlongBank giữ vững NIM gần 4% nhờ kiểm soát chi phí, hoạt động ngân hàng địa phương hiệu quả và tập trung thu hút tệp khách hàng đặc thù./.

NIM dò đáy, áp lực lợi nhuận lộ diện đằng sau đà tăng tín dụng
Ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng.

NIM giảm sâu, "phần chìm" đè nặng lợi nhuận ngân hàng

"Sự phục hồi mạnh mẽ của tín dụng trong nửa đầu 2025 là minh chứng rõ rệt cho năng lực ứng biến của hệ thống ngân hàng trước bối cảnh kinh tế thay đổi. Tăng trưởng tín dụng không còn mang tính mùa vụ mà được phân bổ đều theo chiến lược rõ ràng, từ cơ cấu phân khúc khách hàng đến danh mục cho vay ngành nghề. Tuy nhiên, "phần nổi" của tăng trưởng ấy không che giấu được "phần chìm" là áp lực lợi nhuận đang lớn dần khi NIM giảm sâu. Việc hy sinh NIM để giữ thị phần và thúc đẩy phục hồi là chiến lược chấp nhận được trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn, đòi hỏi các ngân hàng phải tái cấu trúc mô hình lợi nhuận: tối ưu chi phí vốn, tăng CASA, mở rộng thu ngoài lãi và đầu tư vào chuyển đổi số".

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Quý I/2026: VietinBank tiếp tục nền tảng tăng trưởng bền vững

Quý I/2026: VietinBank tiếp tục nền tảng tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 21/05/2026, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) đã tổ chức thành công Hội nghị trực tuyến cập nhật kết quả kinh doanh quý I/2026.
Sau biến cố bất ngờ đêm giao thừa, khoản chi trả bảo hiểm trở thành điểm tựa cho một gia đình tại Long An

Sau biến cố bất ngờ đêm giao thừa, khoản chi trả bảo hiểm trở thành điểm tựa cho một gia đình tại Long An

(TBTCO) - Đêm giao thừa tưởng chừng chỉ là những khoảnh khắc sum vầy, nhưng một gia đình tại Long An đã bất ngờ đối diện với biến cố lớn khi người chồng đột ngột qua đời. Trong hoàn cảnh chông chênh ấy, khoản chi trả từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã trở thành điểm tựa giúp người ở lại vượt qua khủng hoảng và từng bước tái thiết cuộc sống sau mất mát.
Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng tương lai cạnh tranh bằng trải nghiệm khách hàng, dữ liệu và AI

Ngân hàng tương lai cạnh tranh bằng trải nghiệm khách hàng, dữ liệu và AI

(TBTCO) - Trong bối cảnh AI, dữ liệu và hành vi khách hàng đang làm thay đổi mạnh mẽ ngành tài chính - ngân hàng, các tổ chức tài chính không còn cạnh tranh đơn thuần bằng tính năng mới, sản phẩm dịch vụ hay quy mô mạng lưới, mà bằng khả năng thấu hiểu khách hàng, siêu cá nhân hóa và chuyển hóa công nghệ thành trải nghiệm tối ưu của khách hàng trong từng điểm chạm. Đây cũng là những nội dung trọng tâm được các chuyên gia quốc tế chia sẻ tại Hội thảo “Chuyển đổi số: Xu hướng và Tầm nhìn chiến lược” do VietinBank tổ chức trong khuôn khổ sự kiện “Digital Symphony” ngày 15/5/2026.
Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” với giải pháp bảo vệ nền tảng cho các gia đình Việt

Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” với giải pháp bảo vệ nền tảng cho các gia đình Việt

(TBTCO) - Trong bối cảnh chi phí y tế và áp lực tài chính liên quan đến sức khỏe ngày càng gia tăng, Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” thông qua việc giới thiệu giải pháp bảo vệ nền tảng mới – Sản phẩm bảo hiểm tử kỳ PRUYên Tâm Vui Khỏe. Đây là bước tiếp theo trong định hướng tăng cường các giải pháp bảo vệ sức khỏe và tài chính toàn diện đến các gia đình Việt.
Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Nghị định 85/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý triển khai hiệu quả, bền vững chính sách cho bảo hiểm hưu trí bổ sung. Bộ Tài chính kỳ vọng Nghị định góp phần đa dạng hóa chương trình an sinh xã hội, giảm gánh nặng ngân sách trong bối cảnh chuẩn bị giai đoạn già hóa dân số. Đồng thời, thúc đẩy hình thành nguồn vốn dài hạn, phát triển cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên thị trường vốn, thị trường trái phiếu.
Sống trên những cú chạm số

Sống trên những cú chạm số

(TBTCO) - Quét QR mua đồ ở nước ngoài mà không cần đổi ngoại tệ, ký hồ sơ vay trực tuyến không cần ra quầy, hay mở sổ tiết kiệm online lúc nửa đêm để "đu trend" gameshow… ngân hàng số đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt.
Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

(TBTCO) - Người dùng có thể hoàn tất một giao dịch ngân hàng chỉ trong vài giây. Nhưng để những thao tác ấy diễn ra đủ nhanh, đủ an toàn và ổn định mỗi ngày là cả một hành trình chuyển đổi số phức tạp của các ngân hàng lớn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,750 ▼50K 14,950 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,350
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 23/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18241 18517 19107
CAD 18538 18815 19432
CHF 32913 33298 33962
CNY 0 3838 3931
EUR 29946 30219 31252
GBP 34586 34978 35927
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15107 15692
SGD 20045 20328 20861
THB 721 785 839
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,010 26,010 26,390
USD(1-2-5) 24,970 - -
USD(10-20) 24,970 - -
EUR 30,069 30,093 31,527
JPY 161.08 161.37 171.1
GBP 34,768 34,862 36,071
AUD 18,437 18,504 19,213
CAD 18,722 18,782 19,469
CHF 33,163 33,266 34,257
SGD 20,166 20,229 21,030
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,297 3,307 3,446
KRW 15.98 16.67 18.13
THB 769.03 778.53 833.95
NZD 15,086 15,226 15,672
SEK - 2,765 2,868
DKK - 4,024 4,166
NOK - 2,791 2,897
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,208.13 - 7,009.53
TWD 756.49 - 916.35
SAR - 6,906.18 7,273.26
KWD - 83,619 88,960
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26208 26208 26390
AUD 18427 18527 19450
CAD 18748 18848 19863
CHF 33095 33125 34699
CNY 3818 3843 3978.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30107 30137 31863
GBP 34870 34920 36678
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20203 20333 21059
THB 0 750.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,390
USD20 26,184 26,234 26,390
USD1 26,184 26,234 26,390
AUD 18,498 18,598 19,706
EUR 30,292 30,292 31,700
CAD 18,708 18,808 20,115
SGD 20,292 20,442 21,420
JPY 162.61 164.11 168.64
GBP 34,783 35,133 36,005
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80